BIỆT LÝ TAM TIÊU- phần 4a: TÁN HƯƠNG CÔNG LUẬN GIẢI (tiếp theo)

thuannghia | 24 November, 2012 11:00

Tiếp theo phần trước...

http://thuannghia.com/biet-ly-tam-tieu-phan-4a-tan-huong-cong-luan-giai

TỲ LUẬN:

Tỳ là Lá Lách, ngôn ngữ dân gian thường dùng là tuyến Tụy

-          Tỳ chủ vận hóa, tức là chủ về việc chuyển hóa chất dinh dưỡng, khí trung dương không vận hóa thì gây nên sự chướng đầy kết tụ

-          Tỳ giữ Trung Khí, tức là chủ vị của Trung Tiêu, nên Tỳ Khí hư thì sinh ra mỏi mệt, không có sức, lười nói, thích nằm, lười hoạt động, nói hụt hơi. Tỳ khí trệ thì sinh ra vùng bụng chướng đầy

-          Tỳ khí chủ thăng, tức là khí của Tỳ đi lên, khác với khí của Vị đi xuống, nếu Tỳ khí trọc mà xốc ngược lên thì gây nên xoay xẩm. Trung khí, nếu hãm xuống thì sinh chứng lòi rom, sa đì...

-          Tỳ vốn ghét Thấp, nếu tỳ bị Thấp (ẩm ướt). Nếu tỳ bị thấp làm ngăn trở, thi sinh chứng mục bào, tức là chứng mi mắt sưng dày, bụng chướng, tiết tả, hoàng đản...Thấp tỳ tụ đình thủy dịchm ngấm dần ở cơ phu sinh ra phù thủng, ủng lựu, rót xuống chân thì sinh ra cước khí

-          Tỳ thống nhiếp huyết, chức năng này bị hư thì sinh ra ỉa máu, đàn bà sinh ra băng lậu

-          Tỳ chủ cơ nhục, tỳ hư thì sinh ra cơ bắp teo tóp, gầy gò

-          Tỳ chủ tứ chi, nếu tỳ hư yếu, thì sinh ra mệt mỏi, trầm khô, vô lực...

-          Tỳ khai khiếu ở miệng và lưỡi, bị thấp ngăn trở thì sinh ra miệng nhạt, miệng béo, rêu lưỡi dày, lưỡi to ra. Thấp nhiệt uẩn khúc bên trong thì sinh ra miệng ngọt, miệng hôi, miệng và lưỡi sinh ra lở lói, sinh cam

-          Tỳ biểu hiện ở môi, môi trắng bạch là tỳ hư, môi nứt, môi đỏ là tỳ nhiệt

-          Tỳ là gốc của Hậu Thiên, nếu tỳ hư thì sinh ra ăn không tiêu, tiết tả không ngừng, nếu tỳ thực thì sinh ra, bồn chồn khó chịu, uất bế. Nếu tỳ bị thấp trệ thì sinh chứng phong đàm, họa hại Hạ tiêu, sinh chứng xú uế, người bốc mùi hôi, nếu tỳ thấp nhiệt thì hại can đởm sinh chứng phong ngứa, da lở lói, tóc rụng....

-          Tỳ và Vị là biểu lý

-          Tỳ cùng Tâm Phế tương sinh. Nếu hỏa không sinh thổ, thì trước là Tâm hư sau sinh tỳ hư. Nếu thổ không sinh kim, thì trước sinh tỳ hư, sau là phế hư

-          Tỳ và Gan, Thận là tương khắc. Nếu Mộc khắc Thổ, thì trước có chừng trạng của Can khí, như phong ngứa, phong chàm, da dẻ khô nứt, ghẻ lở, huyết nhiệt, gan nóng, đởm uất... sau mới sinh chứng Tỳ không kiện vận. Nếu Thổ khắc Thủy, thì trước có chứng Tỳ thực, nư mạch hoạt mà trầm, ngực tức, khí nghẹt, đau râm ran khắp người, đầy và đau phần bụng trên, lưỡi vàng khô, đói, đại tiện không thông...Sau mới sinh chứng Thận Hư như: Thận Âm hư thì xuất hiện di tinh, điếc tai, ù tai, lưng mềm yếu, mắt hoa đầu choáng, nọng đêm, mồ hôi trộm, thần khí hư hao, tâm thần bất ổn, mạch sác, hư tế...Nếu Thận Dương hư sẽ có chứng, tinh lạnh, tinh hoạt, đi tả buổi sáng sớm, liệt dương, lãnh cảm...đùi lưng lạnh, chân tay suy yếu, hen suyễn, mồ hôi vã ra vô cớ, mồ hôi có mùi hôi khai...

-          Tỳ rất ghét Thấp, nên cần nắng để ráo đi, tỳ muốn hoãn cần ăn ngọt để hoãn lại, dùng đắng để tả đi, dùng ngọt để bổ vào. Nội Kinh chỉ ra vậy, và đó cũng là cách để dụng thuốc, thay đổi cách ăn uống để chữa bệnh về Tỳ

-          Tỳ chủ Trung Khí, thể Âm mà dụng Dương. Khí dương không chuyển hóa được dễ bị thấp trở. Phép chữa chủ yếu là dùng cách: Ôn Dương Ích Khí, Điều Trung Hóa Thấp

…..

Kinh Sách:

Tỳ Vị Hư Thực Truyền Biến Luận (Bài luận về tỳ vị hư thực truyền biến)  trong „Tinh Hiệu Y Học Nhập Môn“ của Lý Diên nói rằng:

  Vị, đại trường, tiểu trường, tam tiêu, bàng quang, năm cái đó khí trời sinh ra vậy. Khí này tượng của trời, cho nên tả mà không chứa. Chín khiếu thì năm tạng làm chủ, song phải có khí của vị mới có thể thông lợi, khi mà khí của vị bị hư, thì miệng mắt tai mũi đều bị bệnh, mình nóng đầu đau, tai ù kêu, mắt hoa đen trầm trọng, đó là nhiệt làm tổn thương nguyên khí sinh ra vậy.

Khí dương rất ghét sự phiền nhọc, nếu thuận thì bền chặt, chỉ có tỳ vị hòa khí, thì khí ngũ cốc đưa lên, làm cho cái lệnh xuân hạ thi hành mà con người trường thọ, không bệnh tật. Nếu tỳ vị không hòa khí thì ngũ cốc chảy xuống làm cái lệnh thu tàng, giữ chứa mà con người chết non

Phàm 11 tạng đều quyết đoán ở đởm, khí mật lên thì tạng khác cũng theo lên, khí đởm không lên thì sinh ra, sinh ra sán tiết, tràng tích, ăn vào là đi tả, tích hòn trong ruột dưới da

Trời cho người năm thứ khí, đất cho người năm thứ mùi vị. Mùi vị chứa ở dạ dày để nuôi năm khí, khí bị trái lẫn thì thì sao còn hình thể, cho nên mọi bệnh đều từ tỳ vị mà sinh ra rõ lắm vậy

 Trong vị nguyên khí thịnh thì ăn được mà không bị tổn thương, nhịn quá bữa không đói, tỳ ví đều vượng thì ăn được mà béo, tỳ vị hư thì không ăn được mà gầy, hoặc ăn ít mà béo, tuy béo mà tứ chi không cất lên được là bởi tà khí thịnh mà thực vậy. Lại có người ăn được mà gầy gò là vì tỳ vị có tà hỏa nằm phục ở nên có thể ăn được, còn tỳ bị hư nên cơ nhục bị hư hao, do vậy mà gầy, cho nên người mặt nóng là vị có bệnh vậy. Vị có bệnh nên tỳ không có gì bẩm thụ, cho nên cũng theo đó mà bệnh vậy

Tỳ bị bệnh thì trôi xuống lấn thận, tức là thổ khắc thủy, khiến cho người xương tủy trống rỗng, thiếu sức, chân không thể dẫm lên đất, đó là âm khí trùng điệp, âm thịnh dương hư, cho mồ hôi ra thì khỏi, cho ỉa thì chết, song không phải cho ra mồ hôi chảy ròng ròng mà dùng thuốc cay ngọt, để tư dưỡng vị cho khí thăng lên, cho nổi lên, khiến cái sinh trưởng vượng thịnh để trợ giúp dương khí vậy

Ôi, bệnh vị thì mạch hoãn, bệnh tỳ thì mạch trì, nếu hỏa lấn vị trí của thổ thì mạch phải có chứng hồng hoãn, thêm có chứng mình nóng, trong tâm không sảng khoái, đó là khí dương suy yếu, nên theo pháp thăng giáng phù trầm để bổ ích mà dùng thuốc.

Nếu mạch hoãn người bệnh trễ nải, muốn nằm, tứ chi không thu, hoặc đại tiện tiết tả, ó là thấp thắng vậy, nên dùng  Bình Vị Tán

Nếu mạch huyền, khí yếu, tự ra mồ hôi, tức chi phát nóng, tiết tả, lông khô tóc rụng nên dùng thang Thang Hoàng Kỳ Kiến Trung, nếu mạch hoãn mà dùng Thang Kiến Trung, mạch huyền mà dùng Bình Vị Tán là nhầm vậy

Mạch  hư huyết yếu thì dùng thì dùng một hai vị trong Thang Tứ Vật, mạch nhược khí ngắn, thì trích lấy một hai vị trong Thang Tứ Quân, hoặc đái đỏ vàng thì dùng Ngũ Linh Tán bỏ quế chi...

  (Lão phu nói, từ Bình Vị Tán, đến Kiến Trung Thang, từ Tứ Vật đến Tứ Quân vốn là một trời một vực, cách xa nhau vời vợi, không sành về mạch vị, chưa giỏi về thần sắc, có nắm chắc cái lý thăng giáng phù trầm, có hay trong việc thủ dụng Quân Thần Tá Sứ thì chắc gì ra được phương toa cho hợp với thể bệnh của Tỳ, chi bằng chỉ một Giáng Long, hợp với Tiềm Long cứ miên miên mà thủ luyện, cái lý của chuyển huyết hóa sinh hương bắt đầu từ chỗ hòa hiệp ở Trung Tiêu đó là chỗ diệu dụng của Cửu Chuyển Tán Sinh Hương vậy.../ TN)

Kinh nói, đến mà không chính là bất cập, cái sở thắng đi càn, cái sở sinh bị bệnh, cái không thắng lấn vậy. Đến mà không đến đó là cái từ sau lại là Tà Hư, tâm cùng tiểu trường lấn khuất tỳ vị vậy, Mạch thấy phù đại mà huyền, bệnh hoặc tứ chi phiền táo, miệng đắng lưỡi khô. Bởi vì tâm chủ hỏa, tiểu trường chủ nhiệt, hỏa nhiệt lấn thổ, thấp nhiệt cùng hợp, cho nên phiền táo, rối loạn tứ chi, lại thêm chứng thổ lấn thủy nữa thì thận hư, không điều tiết được thủy dịch mà sinh chứng người có mùi xú khai khó chịu, đó là cái chứng hợp của tỳ vậy.

Hỏa lấn cho nên phát nóng, ăn uống lao dịch vất vả, tổn thương đến tỳ vị hư yếu, đó là huyết sinh ra bệnh vậy. Chủ trong miệng tân dịch không thông hành, cho nên miệng khô, họng khô, người có mùi là vậy.... Cái thần của tâm là chân khí, nay bảy thần lìa hình thể tiết mùi ra da tóc là trong mạch chỉ còn lại có hỏa vậy, người  khéo trị bệnh này, chỉ cần khiến tâm không ngừng trệ, thì tâm sáng suốt mà không còn bệnh này vậy (Cái diệu dụng của Chuyển Huyết Hóa Sinh Hương là ở chỗ đó/ TN)

Hỏa vượng thì phế kim bị tà, kim hư thì lấy chua để bổ vào. Thứ đến dùng vị thuốc ngọt ấm, cầm, liên, tri, bá sinh địa ở trong tỳ vị là tả cái hỏa của cang thịnh của tâm là trị tận gốc vậy. ( Cho nên đừng tưởng lão phu ta bảo phải lấy quả chanh màu xanh, phơi khô cả quả cho cứng dòn, để đó mà dùng dần là trò chơi nhé, ta có cái lý trị tận gốc hỏa của tỳ vị của ta mà không cần dùng đến Cầm Liên Tri Bá Sinh địa vậy.../ TN).

Kinh nói, bởi lẽ trong vị, nguyên khí được thư ruỗi, hỏa thịnh lấn tỳ cũng là bất cập. Tâm hỏa ấy là Âm Hỏa vậy. Khởi đầu từ hạ tiêu có dây chằng liên hệ tới tâm, tâm không chủ lệnh thì tướng hỏa thay, tướng hỏa là cái tướng hạ tiêu bào lạc, là giặc của nguyên khí vậy. Hỏa cùng nguyên khí không thể cùng tồn tại, một thắng một thua, nếu thấy mạch hồng đại. Mà phiền khát khí suyễn, đó là hỏa rất vượng mà khí rất suy. Cái lý Âm Hỏa này xuất phát từ Lý Đông Viên, ông Đông Viên phát minh ra cái mà Tố Vấn chưa phát vậy (Cái này là cái lão phu ta nói tại sao phải dụng Tiềm Long  để Náo Thủy trong Cửu Chuyển Tán Hương Công là vậy/TN)

Nói cái sở thắng đi càn ấy là nói cái tâm đại vượng, thì có thể khiến cho mẹ thực, mẹ ở đây là Can Mộc vậy. Mộc vượng thì ghé có hỏa đi càn, cho nên tỳ vị bị trước, hoặc thân thể trầm trọng, chạy suốt tới sườn, làm sườn đau. Bởi thấp nhiệt cùng chống nhau, phong nhiệt không được ruỗi gây nên bệnh, làm cho phong nhiệt chạy tán ra da tóc, ngứa ngáy lở loét khó chịu bực tức khôn cùng. Chừng này cũng từ huyết nhiệt do tỳ vị mà ra vậy

...Hoặc giận dữ nhiều, nên phong thổ hãm xuống ở trong Tỳ thổ vậy. Hoặc thấy càn, nghe càn lại dấy lên Tâm càn, đêm mơ thấy mất người, hoặc nóng rét qua lại hoặc tứ chi đầy buồn bực, hoặc đái dầm dề, đái khó, da dẽ khô tróc, lở lói khôn cùng, chuyển gân lóng ngóng đều do Can Mộc hỏa thịnh mà sinh ra vậy. Hoặc sinh liệt mềm, hoặc sinh tê tắc, hoặc sinh lở lói da tóc, hoặc gây thân bại, hoặc trên nóng dưới lạnh, mồ hôi sinh mùi xú uế, đều do phong nhiệt không thăng lên, lớn ra thủy hỏa biến thành bệnh vậy, nên dùng Sài Hồ, Phòng Phong, Xích Thược, Cam Thảo, Quế Chi, Trư Linh, Trạch Tả, Phục Linh, Xương Truật, Tri Mẫu, Hoàng Bá, Hoạt Thạch, Thạch Cao, Khương Hoạt, Độc Hoạt, Xuyên Khung,  Tấ Tân, Mạn Kinh Tử, Thăng Ma, tùy chứng, tùy thể mà chia thành Quân Thần Tá Sứ mà dùng ắt diệu dụng (Cho lão phu ta nói, chẳng cần lao dụng những thứ trên, chỉ cần một thức Huyền Long Thanh Thanh trong Tán Sinh Hương trì luyện là đáo thành tất cả/TN )

 Nói, cái sinh ra bị bệnh ấy, bởi vì Thổ yếu không thể sinh Kim lại bị tà thủy hỏa nên cái khí thanh túc bên trong nghiêm bị tổn thương, hoặc ngực đầy ít khí, ít hơi,  khí xốc lên , tinh thần ít mà trễ nải, thảm đạm thường không vui, đều là khí dương không đủ mà âm có thừa vậy. Hoặc ho hắng nóng lạnh đó là thấp nhiệt lấn vào trong vậy. Tỳ không khắc hoá uất mà sinh ra đờm, biến sinh ra ho suyễn, mắt hoa xây xẩm quay cuồng, mọi chứng...Cách chữa lấy nhân sâm làm quân, bách truật, bạch thược làm tá, quất bì, thanh bì để phá khí trệ, cam bạch bì, cam thảo, mộc hương, binh lang, ngũ vị tử làm tá, quế chi cát cánh làm sứ...(Lão phu nói, khó lắm thay, khó lắm thay, rồi khi thấp tỳ hại thận, mộc không đủ khắc thổ, vì thổ quá hỗn, mà khí uất ở can đởm, sinh chứng ngứa ngấy khôn cùng thì làm sao, chỉ một nhân sâm làm quân, với thần, với sứ ấy, chưa bình được suyễn thì miệng mồm đã lở vì huyết nhiệt do từ can đởm đưa lên, chỉ một Phục Long, một Tàng Long là có thể thay cả quân thần tá sứ ấy, mà còn bình được giặc từ can đởm, trừ được thấp thổ đang trệ xuống lấn thủy rồi../TN)

Nói cái không thắng lấn, là nói Thủy lấn Mộc mà đi càn bậy, vọng hành, mà ngược lại khinh Thổ, cho nên khí Thận vào Tâm làm ra mồ hôi có mùi xú uế, vào Gan làm rệu rã khóc lóc, ưu phiền, vào Tỳ làm ra nước rãi, vào phế làm ra đờm, làm ho, làm nước mắt, làm hắt hơi, làm nghẹt mũi...(dị ứng thời tiết, dị ứng phấn hoa/ TN). Cách chữa nên dùng Can khương làm quân, bạch truật, phụ tử, nhục quế làm thần, phục linh, trư linh, trạch tả làm tá sứ. (Lão phu nói, ô hô, cái lý này, Đằng Vân, Long Hội, Liệt Hỏa trong Cửu Chuyển đã làm, không cần dùng toa lấy gừng làm chủ làm chi/TN)

  Một thuyết khác nói, Hạ nguyên Thổ thịnh khắc Thủy, dẫn đến ba mạch Đốc Nhâm xung thịnh, hỏa vượng, đun đốt, khiến Thủy sôi sục mà lấn Tỳ Phế, cho nên Đờm thấp tiết ra miệng vậy, đi xuống làm Âm Hãn (mồ hôi tiết nhiều ra phía dưới), làm ngoại thận lạnh, làm chân không dẫm đất được, làm lưng eo, cột sống, dưới bàn chân đau ngầm. Hoặc Thủy dựa thế Mộc mà lên, làm cho mắt sáp síp mù mờ, làm nước mắt lạnh, nước mắt sống chảy ra, đó đều là do Phế kim hư mà ít sợ vậy..

   Ôi, tỳ vị không đủ đều gây nên bệnh Huyết, cho nên chín khiếu không thông, mọi khí dương gốc đều âm huyết, âm bị tà hỏa thì âm thịnh, âm thịnh thì thổ lấn dương phận mà đường dương không thông hành, không có khí đưa lên mà nảy nở phát sinh ra vậy. Khí dương chạy ra khiếu rỗng vậy, khí âm thì phụ vào hình chất vậy. Nếu như khí âm phụ vào đất, khí dương đi lên trời thì đều yên phận vậy. Người đời nay, trong lập phương có thuốc cay ngọt ấm, không chỉ một dùng thế vậy, lại có thuốc ngọt đắng đại hàn, cũng không phải một dùng vậy, lại còn lấy lửa rượu hai lần làm sứ, để dẫn thuốc đắng ngọt lạnh lên tới đỉnh mà vào tận dưới Thận Can. Đó là cái đạo Thăng Giáng Phù Trầm, từ ngẫu nhiên mà lạ, lạ mà đến ngẫu nhiên vậy. (cho nên lão phu đưa Wehrauch và Q10 vào Tán Hương Công là đưa cái lạ vào ngẫu nhiên, đưa cái ngẫu nhiên vào bá chấy là vậy ...hahahaha .../TN).

  

  Luận Trị Tỳ Vị của Cảnh Nhạc:

  Tỳ vị có bệnh trước nên chữa Tỳ, song tỳ là tạng Thổ, dưới khắp bốn bên, cho nên trong năm tạng đều có khí của Tỳ, mà trong Tỳ Vị đều có khí của năm tạng. Đó là mối quan hệ của Tỳ Vị với năm tạng, có thể phân chia, cũng có cái không thể phân chia là vậy. Cho nên người khéo trị Tỳ thì: có thể điều năm tạng, tức có thể chữa Tỳ Vị vậy. Có thể chữa ở Tỳ Vị mà khiến cho năm tạng được yên vậy. Người đời nay chỉ biết sâm, linh, truật, sơn tra, mạch nha, hậu phác, thần khúc là thuốc Tỳ Vị mà không biết Phong Hàn Thấp Nhiệt đều có thể phạm Tỳ, ăn uống mệt mỏi, hay thừa mứa, đều có thể tổn thương Tỳ. Ví dụ Phong thắng thì phải làm cho tan ra thì các loại ma hoàng, quế chi, sài hồ, can cát cũng đều là thuốc chữa Tỳ vậy .

Tỳ lạnh thắng thì nên làm cho ấm, vậy thì các loại quế, phụ, can khương, đinh hương, thù du đều là thuốc ấm tỳ vậy. Tà nhiệt thắng thì làm cho lạnh đi, thế thì các loại, cầm, liên, tri bá, chi tử, thạch cao cũng đều là thuốc chữa tỳ vậy.

Tỳ thấp thắng thì nên làm cho ráo đi, vậy thì xương truật, bạch truật, bán hạ trư linh cũng đều là thuốc chữa tỳ vậy. Thức ăn vị uống ình tích lại, thì nên thông đi, vậy thì tam lăng, nga truật, đại hoàng, mang tiêu cũng đều là thuốc chữa Tỳ vậy. Mệt mỏi, nội thương, lo nghĩ, buồn phiền gây nội thương thì nên bổ. Do đó các loại nhân sâm, hoàng kỳ, bạch truật, đổ trọng cũng đều là thuốc chữa tỳ vật

(Than ôi, thuốc chữa Tỳ miên man chi địa vậy, mà ngày nay có thứ thuốc nào ra hồn đâu, thứ thì đánh tráo, thứ thì pha trộn chất độc, thứ thì tẩm ướp chất gây bệnh, thời buổi nhiễu nhương này đào đâu ra thuốc chính hiệu mà ra toa chữa Tỳ hả trời, bởi vậy lão phu ta mới cho Tán Hương Công là thần thang để điều hòa khí Trung Tiêu là vậy/TN)

Song tạng phủ tuy chia thành 11 mà cùng có âm dương, cùng có khí huyết, hơn nữa kinh Thái Âm thường nhiều huyết mà ít khí, kinh dương minh thường nhiều huyết mà nhiều cả khí. Giả sử trong đó có huyết ứ thì các loại phương như Để Đương, Thừa Khí thảy đều là thuốc chữa Tỳ Vị. Nếu trong kinh nào có huyết hư thì các loại thangTứ Vật, Lý Âm, Ngũ Phúc, lại không phải có thang nào là không phải thang chữa Tỳ Vị nào. Lại nữa tà của năm tạng đều thông với Tỳ Vị,  như tà Can mà phạm Tỳ, mà Can và Tỳ đều thực thì chỉ bình khí của Can đi là được rồi. Nếu Can mạnh mà Tỳ yếu thì cân phải bỏ Can mà cứu Tỳ trước mới được. Nếu tà Tâm mà phạm Tỳ, tâm hỏa bốc thịnh chỉ cần thanh hỏa, làm mát là có thể được vậy. Tâm hỏa không đủ thì bổ hỏa để sinh Tỳ mới đúng vậy. Tà Phế mà phạm Tỳ thì khí ủng tắc thì nên tiết Phế để bỏ cái trệ của Tỳ, nhưng khí Phế không đủ thì nên bổ Phế để đề phòng Tỳ bị hư. Tà Thận mà phạm Tỳ, nếu Tỳ hư thì thủy Thận có thể khắc ngược lại, nên cứu Tỳ là chủ yếu, nếu thận hư thì mở đóng không có quyền, nên làm mạnh Thận là trước tiên. Đến nhi Vị giữ việc nhận nộp thức ăn, Tỳ chủ việc vận chuyển biến hóa thức ăn, nếu chỉ nạp mà không hóa là triệu chứng của Tỳ hư. Nếu không thể thu nạp lại không thể chuyển hoá thì cái khí của Tỳ Vị đã thiếu thốn hư nhược trầm trọng, cần mau chóng dùng mọi phương tể như  Thập Toàn Đại Bổ hay Lục Vị Hồi Dương còn sợ không kịp mà lại muốn dùng bầy lũ của tra, cầm, chỉ, truật để làm hại thêm Tỳ Vị ư. Vì thế Tỳ Vị bị tổn thương, cái vị thuốc có thể khiến cho bỏ được cái tổn thương đó đều là thuốc của Tỳ Vị vậy. Cần phải biết mà tùy nghi ứng biến, chứ không thể nói hết được vậy. Vả lại mọi thuốc vào miệng, ắt trước tiên phải vào Vị sau đó mới hành tán đến các kinh, nếu dùng bừa bãi, mọi loại thuốc làm trở ngại phương hại vào phủ tạng mà không thể không phạm Tỳ Vị trước ư. Nếu không rõ lý đó mà chỉ biết một vài phương toa lập sẵn, rằng phưng này công ta, rằng phương này mạnh Vị ....thì làm sao có thể làm một thầy thuốc mát tay được...(Lão phu nói, tất cả những cái khó này, Tán Hương Công đã làm thay một vị Thầy Thuốc đáng kính trọng nhất trên này rồi/ TN)

..Kỳ Bá nói: “Trị cái nguyên khí cho nên ngược trở lại vậy“. Nếu khí của Tỳ Vị không hư hao, không rối loạn dù có bệnh không cần công trị cũng tự khỏi. Cho nên Trung Y dùng thuốc cũng công hiệu như vậy mà thôi. Xem như người nông dân ăn cơm canh rau đạm bạc, có bệnh, không cần thuốc cũng tự khỏi. Cho nên nói, trị bệnh không xét Tỳ Vị hư thực, không biết cách mà điều hòa Tỳ Vị, lấy cái pháp Thăng Giáng Phù Trầm của Hậu Thiên, không làm chủ được khí Trung Tiêu thì không thể gọi là thầy thuốc được.

....Cũng chính vì cái lẽ đó, mà Cửu Chuyển Tán Hương Công, một bài tập thể dục đơn giản nhẹ nhàng, nhưng có khả năng đặc trị được bá bệnh, bởi vì đó là môn công phu đặc biệt liễu nghiệm để điều hòa khí hóa Trung Tiêu, bảo tồn và phục nguyên lại những rối loạn và bệnh chứng của Tỳ Vị. Huống hồ chi, ba cái chứng U Mỡ, Viêm Da Dị Ứng và Người Bốc Mùi Hôi là do bệnh từ Tỳ Vị mà ra. Cái do Tỳ phạm Thận, cái thì hại Can, cái thì nghịch Phế, càn Tâm mà sinh ra ba chứng ấy.

Cửu Chuyển Tán Hương Công cũng là một lý giải cho lý lẽ đi tìm cái giống nhau trong những cái khác nhau của nguyên lý Con Người và Vũ Trụ là một thể thống nhất. Một nguyên lý nhiệm mầu của Đông Y.

Mời các bạn xem thêm Cửu Chuyển Tán Hương Công ở đây. Và chờ xem Kỹ Thuật Tập Luyện Tán Hương Công ở phần tiếp theo:

 

24.11.12

LY QN- LTN  Thực hiện