Sau những cơn lũ chồng lũ, bão chồng bão… để tạo nên các cơn “Đại hồng thủy” và “Đại cuồng phong” quét qua, tàn phá dải đất miền Trung đến thảm khốc là đến những cơn “bão” cứu trợ và những cơn lốc “kền kền” của các Youtube nghiệp dư. Thảm họa “kép” từ Thiên tai và Nhân tai đến bao giờ mới thôi càn quét mảnh đất “chó ăn đá, gà ăn sỏi” này?
“Tiền cứu trợ”
Chỉ trừ khi chúng ta có phương án, kế hoạch “Tiền cứu trợ” thích hợp mới khả dĩ có thể giúp quê hương miền Trung nói riêng và Đất nước ta nói chung vượt qua được khổ nạn triền miên này (“Tiền” ở đây là “Trước” chứ không phải tiền bạc – money).
Chúng ta là “dân đen”, dù đã chậm, nhưng có lẽ vẫn còn chưa muộn, chúng ta phải biết cách lựa chọn những người đại diện cho mình ở chốn nghị trường như “Người đẹp Tây nguyên” Ksor H’Bơ Khắp Phước Hà tại Đại hội Đại biểu Quốc hội vừa rồi, đó là cách đầu tư “trí tuệ” cho “Tiền Cứu Trợ”.
Chúng ta phải đầu tư, hun đúc, giáo dục cho con em chúng ta có tinh thần của Greta Thunberg (Chứ không phải o bế, nâng niu, đưa đón đi học từ khi mẫu giáo cho đến tận cổng trường Đại học). Đó là đầu tư “dũng khí” cho “Tiền cứu trợ”. Cái dũng khí như của bé gái chưa đến tuổi dậy thì đã có thể đứng trước các Nguyên thủ Quốc gia hùng mạnh nhất trên Thế giới và hét mắng vào mặt họ: “Các người dám..” (Dám tàn phá Mẹ thiên nhiên và ăn cắp cuộc sống trong lành của thế hệ tương lai…).
…Chứ chỉ có đầu tư vào “lòng trắc ẩn”, và mãi mãi chạy theo những cuốc “làm từ thiện” (mà hầu hết là để “làm màu”) thì cũng chỉ mãi mãi: “Cho vào biển vài hạt muối mà cứ mong sẽ làm biển mặn mòi thêm”
….
“Mẹ Thiên Nhiên” giữa chốn nghị trường
Lần đầu tiên tôi được nghe cụm từ “Mẹ Thiên Nhiên” vang lên vừa như dõng dạc, vừa như quằn quại giữa… chốn “Nghị trường” của xứ Việt. Tôi chợt có hy vọng “Rừng đã có cơ hội sống lại rồi”. Dù là hy vọng mỏng manh. Nhưng “đốm lửa” hy vọng này, cũng có thể là một trong những cơ hội để cho Quê hương tôi không còn phải oằn mình trong “sạt lở”…. Sạt lở Đất và sạt lở Niềm tin….
“Ksor H’Bơ Khắp Phước Hà”. “Em” mới là Người đẹp, là Hoa hậu, là Người mẫu… là “Cô tiên” của chúng tôi trong lúc này, chứ không phải cái đám “chân dài” ỏng ẹo làm màu kia đâu…. (TN)
Trích báo Pháp Luật
(Trích báo Pháp Luật:
…Chiều 6-11, đại biểu Ksor H’Bơ Khắp đã chất vấn về vấn đề phát triển thủy điện đối với Bộ trưởng Bộ TN&MT Trần Hồng Hà:
“Bộ trưởng nói bão lũ, sạt lở ở miền Trung trong những ngày qua là do trời mưa, địa chất bị đứt gãy. Vậy bộ trưởng cho biết thời gian tới bộ trưởng vẫn tiếp tục ủng hộ việc xây dựng, phát triển thủy điện nhỏ đúng không?” – ĐB của Gia Lai hỏi.
Rồi bà tiếp tục: “Theo Bộ trưởng, ông trời, mẹ thiên nhiên và rừng có quan hệ gì với thực trạng bảo vệ rừng hiện nay ở Việt Nam. Với tư cách chuyên gia, đơn vị tham mưu cho Thủ tướng Chính phủ, bộ trưởng thấy mình có trách nhiệm như thế nào với thực trạng đó?”.
Sau giờ giải lao, ĐB Ksor H’Bơ Khắp tranh luận lại. Vị ĐB là Trung tá Công an nói: “Tôi đã chăm chú lắng nghe và cố gắng thấu hiểu nhưng Bộ trưởng thì có nghe mà không hiểu tôi hỏi gì”.
Theo ĐB, bà hỏi về việc Bộ trưởng có tiếp tục ủng hộ xây dựng thủy điện nhỏ không, Bộ trưởng chưa trả lời. Bà hỏi Bộ trưởng xem trời, mẹ thiên nhiên và rừng có mối quan hệ thế nào đối với sạt lở, lũ lụt hiện nay nhưng Bộ trưởng cũng chưa trả lời.
“Không tự nhiên mà trời mưa được. Không tự nhiên mà địa chất đứt gãy. Bộ trưởng có nói ở hội trường này là dân ở các khu vực đó đã hàng trăm năm nay và họ cần rừng để sinh sống và sản xuất. Đấy chính là lý do của vụ sạt lở” – ĐB Ksor H’Bơ Khắp nói.
ĐB giải thích: Tức là cây rừng ở đó đã mất đi rất lâu rồi, không cải tạo đất và điều này đã gây ra địa chấn về môi trường. Trách nhiệm của Bộ TN&MT trong việc đánh giá tác động môi trường đối với các dự án, công trình rõ ràng có sự sai sót nên mới gây hậu quả như ngày hôm nay.
….
(Ksor H’Bơ Khăp (sinh ngày 10 tháng 4 năm 1982, tên thường gọi Ksor Phước Hà) là một nữ Trung tá Công an nhân dân Việt Nam và chính trị gia người Việt Nam, dân tộc Gia Rai. Bà hiện là đại biểu Quốc hội Việt Nam khóa XIV nhiệm kì 2016-2021 thuộc Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Gia Lai, Trưởng Công an thị xã Ayun Pa, tỉnh Gia Lai, Ủy viên Hội đồng Dân tộc của Quốc hội. Bà lần đầu trúng cử đại biểu Quốc hội năm 2016 ở đơn vị bầu cử số 3, tỉnh Gia Lai gồm thị xã Ayun Pa và các huyện: Krông Pa, Ia Pa, Phú Thiện, Chư Sê, Chư Pưh.
…
Ngày 19 tháng 6 năm 2017, thảo luận về dự án Luật bảo vệ và phát triển rừng (sửa đổi), bà đề xuất cần phải xử lý nghiêm khắc việc lấy đất rừng và việc phá cây rừng trái phép.
Bà cũng đề nghị chấm dứt không cho xây dựng thêm các công trình thủy điện nữa.)
Sau cơn “Đại hồng thủy” và “Đại cuồng phong” và đặc biệt là sau cơn “Cuồng phong Đại cứu trợ” ở miền Trung. Mọi thứ “đoạn hậu” vẫn còn bề bộn và rất bề bộn, nhất là vùng “Hai huyện” (Là hai Huyện đích thực và chính thống có thật trong câu Ca dao: “nhất Đồng Nai nhì Hai Huyện”. Tôi sẽ có bài viết về câu Ca dao này sau).
Chúng tôi sẽ thực hiện chiến dịch “Bao Sót”. Có nghĩa cùng hỗ trợ với chính quyền một số địa phương chúng tôi sẽ khắc phục giải quyết những “tàn dư” của các cơn “Đại…” nói trên. Đặc biệt là “tàn dư” của cơn “Đại” thứ 3.
Chúng tôi tạm gọi là chiến dịch “Bao Sót”. Hiện tại chúng tôi tập trung “bao sót” 3 vấn đề sau:
1. “Bao sót” những hộ gia đình bị “quên lãng”
– Có những hộ gia đình, nhà cửa khang trang, nhiều tầng cao ráo… Trong đỉnh lũ, nhà họ là nơi chứa chấp và cưu mang những láng giềng bị ngập sâu.
Sau lũ rút, vì nhà họ khang trang cao ráo… nên “Cơn bão Cứu trợ” không “ảnh hưởng” đến họ. Nhưng về thực tế, thóc gạo dự trữ và gia cầm của họ cũng bị lũ bão cuốn trôi hoặc dầm nước hư hại hết, trước mắt họ cũng như những người dân vùng lũ khác, gặp rất nhiều khó khăn về những thứ nhu yếu phẩm cấp bách.
– Có những hộ gia đình ở vùng quê này vẫn còn giữ nề nếp khá “phong kiến”: “Sĩ khả sát, bất khả nhục”, cho nên họ khảng khái từ chối “cứu trợ”, vì sợ bị các đoàn cứu trợ “làm màu” hạ nhục.
Bởi vậy qua cơn “Đại hồng thủy” gia đình của họ cũng gặp rất nhiều khó khăn về “nhu yếu phẩm” cấp thiết hàng ngày.
Những cái “sót” này chúng tôi đã tiếp cận và đã chia sẻ trên tình “bằng hữu” và tình “láng giềng” rồi. Và vẫn đang trên đà “bao sót”…
2. Vùng đất “anh hùng” bị lãng quên
Trong chiến dịch cứu trợ, cấp bách và kịp thời ở vùng rốn lũ. Ngư dân của 2 xã miệt biển là xã Hải Ninh và Ngư Thủy có những đóng góp vô cùng ấn tượng.
Mà có lẽ ấn tượng nhất là họ đẩy bộ loại thuyền nan dùng để đánh bắt hải sản gần bờ vượt qua dải cát bạc và đất liền để tiến sâu vào trong vùng lục địa bị ngập lụt để tiến hành cứu trợ kịp thời những cư dân đang chấp chới trong sóng lũ.
Chính họ đã cùng các đoàn cứu trợ tự phát khác mới làm nên kỳ tích là giữa vùng rốn lũ sâu nhất, khắc nghiệt nhất của “Cơn đại hồng thủy” lịch sử tại hai huyện Quảng Ninh và Lệ Thủy là không hề để xảy ra một ca tử vong nào do sạt lở hay bị nước cuốn trôi, hoặc bị cô lập ngập nóc.
Sau khi cơn “Đại hồng thủy” đi qua, dân chúng và chính quyền địa phương có rất nhiều lời khen ngợi và cảm kích. Nhưng có lẽ là vì bị truyền thông Trung ương xỉa xói, chê bai… (Không biết vì sao) cho nên “Cơn bão Cứu trợ” cũng nương theo mà quên lãng họ.
Tuy Hải Ninh và Ngư Thủy là các xã ven biển, không bị ảnh hưởng trực tiếp của nước lụt, nhưng họ đã dốc hết toàn lực về lương thực, thực phẩm để cứu trợ kịp thời cho các vùng bị cô lập.
Vả lại lũ chồng lũ, bão chồng bão… biển động dữ dội đời sống của họ cũng khá bấp bênh. Và đó cũng là các xã thuộc vào diện “vùng sâu, vùng xa” rất nghèo.
Hiện nay tình trạng lương thực của họ sau bão lũ cũng rất ngặt nghèo. Ngư dân có thần thái phóng khoáng của biển cả, nên cho dù các đoàn cứu trợ có “đổ hàng” bạt ngàn dư thừa dọc đường quốc lộ 1A, thì họ cũng chỉ lặng nhìn và chia sẻ cho nhau những nắm gạo cuối cùng…
Hiện nay chúng tôi đang vận động “bao sót” vụ này.
3. “Bao sót” hàng cứu trợ dư thừa đến vùng còn thiếu
Trong các loại hàng “đổ xuống” từ cơn “bão cứu trợ” cho vùng rốn lũ ngập sâu có 2 thứ thuộc vào loại khủng hoảng “thừa”. Đó là mì tôm và áo quần cũ.
Trong khi các xã vùng xa, cao, và đồng bào Dân tộc thiểu số vùng sâu thì bị thiếu hụt trầm trọng. Đặc biệt là áo quần cũ được các đoàn cứu trợ “trút hàng” ở vùng ven quốc lộ và đổ đống ở các trụ sở ủy ban hoặc các nhà văn hóa rất nhiều. Gây nên tình trạng khá phản cảm cho cả 2 phía: Người cứu trợ và người được cứu trợ.
Hiện nay chúng tôi cũng “bao sót” vụ này. Một nhóm bạn trẻ khoảng 20 người, với phương tiện thô sơ đã “lùng sục” khắp nơi và tập kết những thứ “dư thừa” đang vương vãi ở các vùng “rốn bão cứu trợ” về một chỗ.
Nhóm bạn trẻ này sẽ tập kết về một nơi, sắp xếp phân loại lại, và phân công nhau từng tốp chuyên chở vào các vùng sâu xa như Ngân Thủy, Kim Thủy, Trường Thủy, Thái Thủy… v…v… để hỗ trợ, chia sẻ cho đồng bào Dân tộc thiểu số và những hộ gia đình nghèo ở vùng sâu, không tiếp cận được “bão cứu trợ”.
…
Cùng đồng hành với chiến dịch “Bao Sót”
Về mục 1 và mục 2 do Gia đình và Môn hộ của TN-DSĐ đảm nhận và trực tiếp tiến hành “bao sót”.
Riêng mục 3 nếu các bạn và quý đoàn cứu trợ quan tâm thì xin liên hệ với nhóm “xung kích” bản địa theo địa chỉ dưới đây để “bao sót”:
Lê Thuận Hải, địa chỉ thôn Tân Lỵ, xã Tân Thủy, huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình. Điện thoại liên hệ: 0837959068
Chân thành cảm ơn các bạn đồng hành cùng chiến dịch “bao sót” của chúng tôi.
(Những hình ảnh đính kèm là hình ảnh hàng hóa “khủng hoảng thừa” mà nhóm xung kích của Lê Thuận Hải đang tập kết về để chuẩn bị chia sẻ cho vùng sâu, xa…)
Nó là thế hệ thứ 3 “thống trị” trong khu vườn này. Mấy thế hệ trước có cặp có đôi. Riêng thế hệ này em lại lẻ bóng, chỉ “độc hành đại đạo” một mình. Không biết là tại sao.
Mỗi lần “hỏi han” em chuyện này, thì em lại vểnh đuôi lên rất kiêu hãnh và ngoảnh mặt làm ngơ. Cũng có lẽ, em xinh hơn, màu nâu sậm hơn nên em chảnh…
“Nếu không cho thì thôi…”
Mấy tuần trước, không biết tại sao, em nổi cơn gì, thỉnh thoảng em lại lấy trái hồ đào đầu mùa mà tôi đã gom lại và để dành cả mùa đông cho em, em chọi vào cửa kính cành cạch.
Kể cả buổi trưa, khi cửa ban công hé mở, em lẻn vào vác cả trái hồ đào ném vào cả cửa phòng ngủ… Tôi bực mình vì bị làm phiền, nói nặng lời với em thì em giận bỏ đi mấy ngày.
Rồi một trưa khác, khi lại nghe cái cạch ở cửa kính, chạy ra thì thấy trên nền ban công có một hàng vỏ trái hồ đào lật ngửa ra rất ngay hàng thẳng lối xếp trên lối ban công.
Còn em thì đứng trên bàn trà chắp tay gật gật rất điệu đàng… Lúc này tôi mới giật mình biết ý của em nên hỏi: “Ý của bậu là phải đập tách đôi hồ đào ra như vậy phải không”.
Em choe chóe một hồi, té ra là em nói: “Bố khỉ? Nếu không cho thì thôi, nhưng lúc cho thì phải cho đàng hoàng…” …He he….
Vậy là không những mỗi ngày phải “cung kính” hiến dâng cho em 5 trái, mà còn phải đập ra làm đôi. Trái nào mà lỡ đập hơi nát một tý em cũng tỏ thái độ rất bực dọc.
“Đẹp là có quyền chảnh”
Nhiều hôm bận quá, quên đem hồ đào “chế biến sẵn” ra gốc trúc cho em. Y như rằng em lại dở trò.
Em cứ thấy cửa kính nào thấp thoáng có người trong đó, là em lại vác vỏ hồ đào ném cành cạch vào nhà người ta. Làm khổ mình bị bán vốn mấy lần….
Đã biết “đẹp là có quyền chảnh”, nhưng bị em sửa lưng “Đã cho, thì cho cho đàng hoàng, nếu không biết cách cho thì đừng cho, kẻo làm nhục người khác…”… thì cũng cảm thấy uất uất…. he… he.. he…
Cô Diệu Ngọc hoảng hốt ngăn người đàn ông đang định hướng điện thoại vào phía người đàn bà để quay clip: “Thôi bỏ qua đi chú, đừng quay đưa lên mạng rồi làm khổ người ta”. Người đàn ông ăn mặc sang trọng, tắt điện thoại không quay nữa nhưng vẫn hậm hực: “Cữ người này mà thương hại gì Cô ơi, đúng là lòng tham không đáy mà…”
Đoàn cứu trợ của một chi hội Phật tử từ TP. Đông Hà, Quảng Trị ra đến chợ Mai trên địa bàn xã Cam Thủy giáp ranh với xã Tân Thủy thì dừng lại, vì ngã rẽ từ quốc lộ 1 vào thị trấn Kiến Giang vẫn còn ngập sâu, xe cơ giới chưa vào được. Tổ chức đoàn liền cho người báo với UBND xã, xin phép được phát chẩn cứu trợ cho dân vùng ven Quốc lộ từ đoạn Cam Thủy xuống Hồng Thủy.
Khi đoàn đang cứu trợ cho mấy lán sơ tán trên cồn cát và dân vùng lân cận thì phát hiện ra một người phụ nữ luống tuổi cố tình chen vào hàng người được cứu trợ đến lần thứ 3. Người phụ nữ này mỗi lần đến nhận hàng đều cố tình choàng che mặt bằng một tấm khăn màu khác nhau. Người trong đoàn nhận ra bà ấy là vì cách nhận hàng cứu trợ của mỗi lần đều rất giống nhau.
Bà ta chỉ lấy cái túi có 2 kg gạo, mà len lén bỏ lại 4 gói mì tôm, 1 cái bánh chưng và 2 chai nước lọc. Bà ta đã lấy 2 lần như thế, đến lần thứ 3 thì bị phát hiện. Người ta quát đuổi bà ta đi, và thậm chí có người còn nguyền rủa lòng tham không đáy của bà ta, có người còn chửi, đã đói rét rã họng ra mà còn chảnh, còn chọn lựa đồ ngon mới lấy nữa chứ, đồ nghèo mà ham…
Người đàn ông ăn mặc sang trọng là “mạnh thường quân” tài trợ cho đợt cứu trợ này, lúc nãy ông ta định quay clip ghi lại sự “tham lam” của dân vùng rốn lũ, nhưng vì nể Ni Cô Diệu Ngọc nên thôi.
Người đàn bà bị bắt quả tang vì tính tham lam, bị xua đuổi ra khỏi địa điểm cứu trợ như đuổi tà. Trước khi đi bà ta còn quay lại chỉ chọc, thì thầm gì đó với mấy người xếp hàng phía sau, rồi mặt đổ sập xuống một đống lùi lũi bước ra sau cồn cát.
Những bao gạo phía sau cồn cát
Khi thấy có mấy người nhận hàng xong đi ra sau cồn cát, phía người đàn bà tham lam vừa đi ra hướng đó, khi họ trở lại thì trên tay không còn bao gạo 2 kg nữa, mà chỉ còn mấy gói mì tôm và cái bánh chưng.
Người đàn ông sang trọng lén đi theo và phát hiện ra một chuyện động trời, mấy người nhận hàng cứu trợ xong thì đi ra sau cồn đưa cho người đàn bà kia các túi gạo của họ vừa nhận được. Thấy vậy người đàn ông sang trọng liền hô hoán lên, gọi mấy người trong đoàn đến bắt quả tang.
Mấy người dân đưa gạo bỏ chạy mất hút, chỉ còn người đàn bà tham lam ngồi ôm mấy bao gạo khư khư trong lòng.
Người đàn ông sang trọng giận dữ hét to lên bảo mấy người bắt người đàn bà tham lam kia lại, giải lên Ủy ban xã để làm cho rõ chuyện. Ông ta nói như hét: “Chắc lại là loại đầu nậu, chấn lột hàng cứu trợ của dân gặp nạn đây mà, nhất định phải làm cho ra chuyện, không thôi để các loại người này cứ tồn tại là làm băng hoại giá trị đạo đức xã hội ngay…”
Ni cô Diệu Ngọc thấy vậy lại chạy đến lần nữa can ngăn: “Phải hỏi lại cho rõ nguồn cơn đã chú, nếu có gì khuất tất, tội người ta”.
Người đàn ông dứt khoát: “Thưa Cô, lần này thì không được, làm quá thế này là không được, Cô cứ để con xử, với hạng người này mềm lòng với họ là không được”.
Ni cô Diệu Ngọc thở dài im lặng. Cô không làm gì được, vì người ta là người tài trợ, người ta có quyền. Cô nhẹ nhàng tiến tới hỏi chuyện người đàn bà kia. Người đàn bà, không nói gì chỉ lắc lắc đầu, vẻ mặt cầu xin rất thảm não.
“Thím Con Câm”
Người đàn ông sang trọng cùng mấy người trong đoàn bắt giải bà kia về trụ sở UBND xã. Cô Diệu Ngọc thấy bất an nên cũng lầm lũi theo họ về trụ sở ủy ban.
Người trực trụ sở Ủy ban, thấy đám người lùm xùm nắm cổ tay người đàn bà kia kéo đến thì vội vàng chạy ra, vừa hất tay nắm của mấy người kia, vừa chụp lấy vai của người đàn bà tham lam xuýt xoa hỏi: “Thím Con Câm, thím lại gây rắc rối gì nữa đây, có ai đánh đập gì thím không”.
Người đàn bà tham lam mà người trực ủy ban xã gọi là “thím Con Câm”, vừa đưa tay khoáng, vừa ú ớ một hồi liên tục. Người trực ủy ban lắng nghe xong gọi lớn vào trong nhà: “Thằng Bi, thằng Lì đâu nhanh ra đây chú nhờ”.
Phía trong trụ sở hai thanh niên lực lưỡng bặm trợn chạy ra. Thấy người đàn bà tham lam bị vây hãm giữa đám đông, liền hùng hổ bước đến la lên sang sảng: “Ai… ai… ai dám đánh Con Câm hả, đứa nào dám đánh bà ấy”.
Người trực Ủy ban, nạt to: “Bi, mày không được hỗn, chỉ là hiểu nhầm thôi, bây giờ con vào lấy thêm 2 bao gạo 10 kí trên bàn của chú, rồi chở Con Câm đến chỗ bà, con chở bà về, nếu bà cần thì ở lại giúp bà ấy luôn”.
Gã thanh niên có tên là Bi, hầm hầm nhìn đoàn người cứu trợ đã bắt người với cái nhìn rất hằn học, rồi lặng lẽ bỏ vào trong.
Sự thật về những bao gạo
Khi thằng Bi hối hả chở Con Câm đi rồi, người trực Ủy ban mới điềm tĩnh giải thích với đoàn:
– Bà ấy là người trên T. Bằng, bị câm điếc từ nhỏ, mấy hôm rồi có chú T. dưới T.Lỵ, khi nước dâng cao, nhà nào cũng lút nóc, nhà chú T ở nơi khô ráo, nên chú T có nấu cơm đưa đến cho từng nhà bị ngập nặng ở dưới T.Lạc.
Bà Con Câm cũng là người phụ giúp chú T rất tích cực, bà ấy có tài bơi lội, hì hục cả đêm, không có ngõ ngách nào trong thôn mà bà không đưa cơm cứu trợ cấp bách đến cho họ.
Mấy nay nước rút, quốc lộ đã thông, đã có cứu trợ, vả lại nhà chú T lại không còn gì nấu nữa, nên chú ấy cho dừng bếp.
Con Câm không cam chịu vậy, bà ấy nói, người lớn thì kệ, nhưng bọn con nít dầm nước bạc lâu ngày, không thể để bọn trẻ ăn mì tôm và đồ nếp hoài được, người lớn dầm nước bạc, ăn mì tôm mãi còn bị nhiệt lỵ huống gì là trẻ con, vì vậy bà ấy về T.Bằng tự lập bếp riêng, đôn đáo khắp nơi đi xin gạo, xin rau về nấu cơm đưa đến cho tụi con nít trong vùng.
Tội, tối qua còn đạp xe vô tận trong Vĩnh Mốc xin tép khô về làm cơm cho tụi nhỏ nữa. Bà ấy câm không nói được, có gì làm phiền, xin quý vị rộng lòng bỏ qua cho.
Gã thanh niên lực lưỡng, vai u thịt bắp tên là Lì, nhìn đoàn người cứu trợ nói như mếu: “Mấy người ỷ thế có tiền, rồi ăn hiếp Con Câm của tụi tui, mấy người căng biểu ngữ băng rôn hà rầm rứa, nhưng có giúp được dân tui như bà câm không, mấy người thiệt tình…” Gã vừa nói vừa mếu máo chùi nước mắt…
Hai dòng nước mắt của Ni cô Diệu Ngọc
Cô Diệu Ngọc, im lặng từ nãy đến giờ không nói gì. Hai tay Cô chấp vào trước cố kìm cơn run bần bật, không biết Cô bị lạnh hay vì xúc động.
Khi đoàn người bắt bà Câm đã được giải tỏa sự hiểu lầm kéo nhau đi làm từ thiện tiếp, thì Ni cô Diệu Ngọc xin ở lại. Cô xin người trực Ủy ban được đến thăm bếp cứu trợ của bà Câm. Người trực Ủy ban, nói Cô đợi một chút, để gọi người nhà đưa xe máy đến, rồi bảo thằng Lì chở Cô đi.
Cô Diệu Ngọc vào trong trụ sở Ủy ban ngồi đợi. Thằng Lì cũng vào ngồi đợi để chở Cô đi. Sau khi vào trong, Ni cô hỏi thằng Lì, tại sao bà Câm đứng tuổi rồi, lại tốt bụng như thế mà ai cũng gọi bà là Con Câm vậy.
Thằng Lì cười hì hì nói, nó không biết, từ lúc nó đẻ ra được bà ấy xoa đầu lớn lên đến nay đều nghe người ta đã gọi vậy rồi.
Cô hỏi, sao lại bà Câm xoa đầu. Thằng Lì kể là, hiềm mỗi khi trong thôn, trong xóm có ai sinh con, cũng đều mời Con Câm đến xoa đầu đứa bé sơ sinh hết, người ta nói mấy đứa trẻ được bà xoa đầu sau khi sinh, lớn lên đều khỏe mạnh, không đau ốm bệnh tật gì cả.
Thằng Lì gồng bắp tay cuộn cuộn của nó lên nói, Cô xem này, con cũng được Con Câm xoa đầu nên giờ mới khỏe mạnh ri đọ.
Ni cô Diệu Ngọc, nghe thằng Lì thỉ thỉ kể chuyện bà Câm, ngồi xuống khoanh chân, mắt nhắm hờ và lầm bầm: “Ly bà ly bà đế, câu ha câu ha đế, ni ha ra đế, đà ra nị đế, tỳ lê cẩn đế, ma ha đà đế, chân lăng càng đế. Ta… bà… ha…”.
Hai dòng nước mắt chảy dài trên gò má của Ni cô, và rơi xuống mỗi khi Cô ngân dài âm “ê” của mỗi đoạn của câu chú….
2. “Rứa mới kêu là vô thường eng hè…”
Thằng T, kể cho tôi nghe chuyện này, khi tôi gọi điện thoại hỏi thăm lụt lội nhà hắn. Nó là em họ, con cô ruột của tôi, hiện ở dưới làng T.Lỵ.
Tôi hỏi chuyện và tỏ ra khâm phục và khen ngợi hết lòng trước việc làm cứu trợ bữa cơm cấp bách cho dân làng khi đỉnh lũ ập về bất chợt. Tôi nói với nó, chú quá xuất sắc.
Nó cười hô hố trong điện thoại: “Xuất sắc gì eng ơi, mấy bựa rồi vét hết đồ ăn và gạo nấu cơm cứu trợ, chừ nhà không còn chi ăn, nhà em cao ráo khang trang, nên không có đoàn cứu trợ nào cho chi cả, chút nữa em phải lên bếp Con Câm xin mấy suất về cho tụi nhỏ đây… hô..hô… rứa mới kêu là vô thường eng hè…”.
…Sáng nay nước rút, nghe nói mấy xã cao cao một chút đã có điện. Đã thấy anh Ba tôi ở quê lên “tút” ở trên “phây”. Hôm nay sinh nhật ổng, ổng lên “tút” là một cái clip đang chống bè chuối lướt trên đường làng, vừa lướt bè vừa cười phe phé… hỏi to một mình: “Trời… trời… cá nhà ai mà thả nuôi trên đường nhiều ri hè…”.
Ổng cười giòn phết, tôi không biết kiểu cười ấy có hàm chứa chút chua chát nào hay không, vì tôi biết chắc chắn trong trận lụt này, mấy cái ao cá mà ổng om nuôi cả năm nay không còn một con… Nhưng tôi biết ổng cười rất lạc quan.
Tôi nhắn tin hỏi đùa ổng: “Toe tua chưa đủ hay sao mà cười dữ vậy cha nội…”. Ổng nhắn tin: “He.. he… cười mà làm lại từ đầu chơ răng chú mi, khóc than được ích gì…”.
Tôi nghe ổng nói cái cụm từ “…Làm lại từ đầu” mà chua chát.
Làm lại từ đầu, làm lại từ đầu… năm nào cũng phải làm lại từ đầu. Mấy chục năm nay rồi, từ khi tôi có nhận thức, tôi đã tận mắt mình chứng kiến tất cả.
Đúng!, dân quê tôi năm nào chẳng “làm lại từ đầu” tất cả. Năm nào cũng phải làm lại từ đầu, không nghèo mới lạ.
Có điều nghèo gì thì nghèo, dân quê tôi lại không nghèo nụ cười, nụ cười của lòng tin, nụ cười của lạc quan, nụ cười của sự cam chịu, nhẫn nại… để động viên mình, động viên nhau làm lại từ đầu…
Những người Thầy giữa thời nghèo khó
…Tôi còn nhớ, hồi ấy anh Ba tôi làm giáo viên tiểu học trong Triệu Trạch, Quảng Trị. Mùa hè năm 1979 tôi tìm đến thăm ổng. Tối hôm tôi đến, ổng cùng mấy Thầy cô trong trường tụ tập đàn hát nghêu ngao trên cồn cát nơi mé biển.
Khi thấy ổng len lén đi vào trong hàng dương thì thầm với ai đó, tôi cũng lén đi theo… Khi trở vào, tôi hỏi ổng, anh đi nói chuyện với ai vậy. Ổng cười hê hê… bảo: “Nói chuyện với mấy đứa học sinh đến nộp bài”.
Nghe ổng nói vậy, tôi cũng cười cười phụ họa nhưng không nói gì. Vì trước đó, tôi rình nghe, thấy ổng thì thầm với đám học sinh, là cố gắng tìm đâu đó mua chịu cho Thầy mấy lon gạo, mai Thầy chiêu đãi em Thầy mới ngoài quê vô thăm.
Trưa hôm sau, trong bếp ăn tập thể của trường. Tôi thấy các thầy cô đồng nghiệp của ổng ăn rất ít. Mới có lưng bát, mà ai cũng vỗ bụng kêu no rồi bỏ đi.
Tôi hỏi anh Ba tôi, sao các thầy cô ăn ít vậy… Ổng lại cười hê hê… nói là các Thầy cô để dành bụng chiều nay đi ăn tiệc tổng kết thi đua. Tôi không nói gì, cũng hì hì cười theo.
Sáng đó, tôi đã nghe các cô trong trường thì thầm với nhau là đã cho người nằm chờ ở kho lương thực trên Thành Cổ, chờ 3 ngày rồi mà vẫn chưa mua được cân gạo nào trong tiêu chuẩn gạo của 2 tháng trước. Gạo mốc cũng không có, lấy gì mà ăn tiệc.
Tôi biết các thầy cô ấy, nhịn ăn để dành cho anh Ba đãi em út cho “phủ phê”.
Cái quần để lên lớp
Cũng lần đến thăm đó, khi đã đến giờ thay tiết lên lớp, tôi thấy anh Ba vẫn chưa đi. Hỏi, thì ổng bảo phải chờ thầy “P” trên lớp về để đổi cái quần đã mới lên lớp dạy được.
Tôi hỏi, răng lại đổi quần. Ổng chìa mông ra cười hê hê… “Mi coi, e mang cái cùn trôộng khu ni mà lên lớp à” (Mày xem, chắc mặc cái quần lủng đít này mà lên lớp à).
Hôm đó, thấy 2 thầy hối hả thay quần cho nhau như kiểu cha con Chữ Đồng Tử thay khố mà lòng tôi quặn thắt lại.
Thời đó nghèo đến thế, “Khố rách, áo ôm” đến thế mà họ vẫn cười, vẫn hát hò, vẫn ung dung, đạo mạo… làm tròn bổn phận của người Thầy nơi chốn “Khỉ ho cò gáy” ấy…
Nụ cười từ những năm chiến tranh
…Tôi nhớ hồi anh Ba bị thương do bom Mỹ, anh bị cụt một ngón tay, đầu mặt bị găm mấy mảnh bom, đầu gối, mắt cá, cẳng chân, cẳng tay đều gãy và dập nát, phải bó bột rất nhiều ngày.
Hồi đó chiến tranh vùng giáp ranh rất khốc liệt, nên công tác cứu hộ Y tế không có. Việc phục hồi hậu thương vong chủ yếu là gia đình tự làm.
Cha tôi không biết bó bột cho anh Ba tôi kiểu gì, tôi còn nhỏ không còn nhớ. Nhưng tôi nhớ mang máng là anh Ba phải bó bột rất lâu, và hình như vết thương phải mấy năm sau mới lành được thành sẹo, và anh Ba phải ngồi xe lăn tự chế trong thời gian rất lâu.
Vì bó bột chân tay lâu ngày, lại không có thuốc men sát trùng gì, nên vết thương của anh Ba rất hay mưng mủ và bị sinh dòi phía trong lớp bó bột.
Vì vậy nên anh Ba thường có một cái que sắt đầu uốn cong để luồn vào trong lớp bột bó để gãi ngứa và móc mấy con dòi lúc nhúc trong vết thương ra.
Trò chơi “ngựa đua”
Hồi đó, tôi và anh Ba có một trò chơi rất quái đản (bây giờ nghĩ lại vẫn còn rùng mình không dám nghĩ tới). Đó là khi anh Ba móc mấy con dòi trong vết thương từ trong lớp băng bột ra. Chúng tôi, mỗi đứa sẽ chọn một con mập nhất để làm “ngựa đua”.
Chúng tôi bỏ 2 con dòi lên đầu này tấm ván, đầu kia bỏ tấm gạc lôi từ vết thương của anh Ba ra. Các con dòi này sẽ đánh hơi tấm gạc thấm máu mủ và bò về hướng đó.
“Ngựa” của ai bò đúng hướng tới trước thì thắng.
Nếu anh Ba thắng, thì tôi phải đẩy xe lăn của ổng đi chơi đâu tùy ổng định đoạt. Nếu tôi thắng thì ổng phải cho tôi mấy viên Polyvitamin màu vàng vàng ngọt ngọt trong tiêu chuẩn của ổng.
Lần nào “ngựa” tôi chọn kiểu gì cũng thua.
Mỗi khi hỏi ổng bí quyết chọn “ngựa”, ổng đều lim dim mắt, thò cái móc sắt vào trong lớp băng bột, móc rồn rột… mỗi khi móc bật ra một con dòi trắng phau, ổng lại cười cười hê hê… “Đợ ngá thiệt, đợ ngá thiệt…” (Đỡ ngứa thật, đỡ ngứa thật)…
Nụ cười của “Nước Mắt”
Nụ cười này của ổng tôi đã quen quen. Hôm nay nước rút, thấy ổng chống bè chuối đi thăm hàng xóm, vừa chống bè vừa hỏi cá ai nuôi thả trên đường… vừa cười hê hê… Tôi đã nghe quen nụ cười này rồi mà vẫn xót….
Quê tôi có tên gọi là “Lệ Thủy”. Lệ thủy là nước mắt. Tên gọi là “nước mắt”. Nhưng dân tôi ít khóc lắm.
Có lẽ trời “khóc” làm mưa lũ đủ rồi, cho nên dân quê tôi rất hay cười.
Ai nói gì thì nói, ai làm gì thì làm, dân quê tôi biết, chỉ có nụ cười mới đem lại nguồn sinh lực mới cho họ, và chỉ có nụ cười mới có thể giúp họ tự đứng dậy để làm lại từ đầu trong tang thương đổ nát….
Nhiều học viên, đệ tử… và bạn bè thân hữu, gọi điện, nhắn tin hỏi trong đợt lũ quét, lũ chồng lũ này… gia đình tôi ở quê có bị sao không? Tôi cũng không biết trả lời sao.
Vì một trong những “rốn lũ” của miền Trung, từ khi mùa lũ quét, sạt lở… năm nay bắt đầu hoành hành thì lưu vực hạ nguồn sông Kiến Giang, của huyện Lệ Thủy là nơi bắt đầu mùa lũ sớm nhất, dữ dội nhất, và mức nước lên cao báo động nhất, và hiện nay cũng đang nằm trong vùng có lượng mưa lớn nhất, và cũng theo dự đoán của Thủy văn, thì trong những ngày tới mưa nguồn vẫn chưa có dấu hiệu thuyên giảm.
Hình ảnh đính kèm là hình ảnh mới nhất của hạ nguồn sông Kiến Giang mà tôi vừa nhận được từ Chị gái tôi, và hình ảnh dòng trạng thái trên Facebook của cháu trai, con anh ruột tôi ở Lệ Thủy. Quê tui đó…
Không phải chỉ có mùa lũ này, Quê tôi từ ngàn xưa đến nay, năm nào chả có vài ba cơn lũ như vậy. Thiệt hại năm nào mà không trầm trọng vì mưa bão.
Dân quê tôi được tôi luyện kỹ năng sinh tồn sống chung với mưa bão, lũ quét từ hồi mới lên hai lên ba…. Hy vọng rằng “Kỹ năng” sinh tồn này vẫn còn được truyền thừa đến cho đến thời đại “kỹ thuật số” này để giảm thiểu tối đa nhất về thiệt hại tài vật và con người…
“Nước hậu” sau những cơn lũ
Sau những cơn lũ chồng lũ, lũ dầm… theo quy luật của tự nhiên thì sẽ có bão quét và “nước hậu” để “dọn dẹp” bùn phù sa.
Nghe tin tức thông báo rằng, có một cơn áp suất nhiệt đới đang hình thành bão lốc và hướng trực diện vào vùng đang bị mưa lũ của miền Trung. Cũng hy vọng rằng Dân mình không “quên” cái quy luật này của Tự nhiên để chủ động đối phó với tình trạng “Hậu nước bạc”.
2. “Không đạp lên thị phi thì làm sao mà bước lên…”
Điện thoại hỏi thăm một thằng “em út” đồng hương, trước đây thường hay lo cái vụ quyên góp từ thiện ở cộng đồng “Hội đồng hương”. Nó nói, nó không làm nữa, vì quá nhiều thị phi, và còn bị rắc rối với chính quyền và pháp luật nữa.
Tôi gắt: Là dân sông nước, giang hồ… trải qua bao nhiêu sinh tử của đời người như vậy mà đến nay mày vẫn không vượt qua nổi cái “hiệu ứng bầy đoàn” của cộng đồng mạng ấy thì mày quá tệ.
Khi đã muốn làm một cái gì đó có ích cho số đông xã hội, thì những thị phi, xoi móc, xỉa xói của những thiểu số hẹp hòi đố kỵ là “cái đinh”.
Không đạp lên thị phi thì làm sao mà bước lên trên con đường mình muốn đi được.
Kệ con bà chúng, mày cứ âm thầm, lầm lũi mà tiến tới trên con đường mình đã chọn. Nam nhi trượng phu mà ngã gục trước những thứ tào lao chi khiết đó là quá hèn.
Nó dạ. Nhưng nghe rằng tiếng “dạ” cũng không mấy “hoành tráng” lắm.
Khi tôi viết về thiên “Hoạt Thông Thủy Đạo” trong loạt bài “Hành trang để sống chung với lũ”. Trong thiên này tôi có trích dẫn khá nhiều về biện lý Tam tiêu từ sách “Linh Khu Tố Vấn”. Sau khi đọc bài, có mấy “lão đệ” comment hỏi, sách này bán ở đâu. Tôi trả lời: “Đầy”. Mấy người này đua nhau nói, bán lại cho em một cuốn. Tôi cười hề hề…: “Sách không bán, chỉ đổi trà uống thôi”. Chúng nói: “Bao luôn Thầy trà cực phẩm uống cả đời”. Tôi “đóng đinh” hẹn chắc với chúng cứ vậy, cứ vậy….
Mới dạo gần đây, tôi than hết trà uống, chúng liền hùa nhau tậu trà xịn gửi sang cho tôi. Chắc cũng có ý đòi sách… he..he..he…
Nhận được trà, trong đó có mấy loại trà cực phẩm, mà các loại trà ngon cũng có vẻ dư dư, bộn bề ra phết. Uống trà chúng gửi xong, lòng bỗng thấy “ăn năn”, cảm giác như mình đã “lừa” tụi chúng, vì đã “thả thính” với chúng về loại Y thư “Cực hiếm” mà chúng chưa hề biết đến.
“Linh Khu Tố Vấn” và “Hoàng Đế Nội Kinh”
Thực ra sách “Linh Khu Tố Vấn”, chính là một phần của “Hoàng Đế Nội Kinh”.
Sách “Hoàng Đế Nội Kinh” là người đời sau kết hợp giữa 2 cuốn kinh điển về Y thuật thời cổ đại. Đó là cuốn “Hoàng Đế Tố Vấn” và cuốn “Linh Khu Tố Vấn”.
“Hoàng Đế Tố Vấn” là sách viết ra dưới dạng “hỏi – đáp” giữa vua Hoàng Đế với các quan đại thần (chủ yếu là với Kỳ Bá). Đại khái sách này chủ về Lý thuyết Cơ thể học Đông Y. Diễn giải, quy nạp… mối tương quan giữa cơ thể con người với các học thuyết Âm – Dương, Ngũ hành, Kinh dịch, Bát quái… v…v…
“Linh Khu Tố Vấn” cũng là sách viết ra dưới dạng “hỏi – đáp” giữa các danh y đại thần. Nhưng sách này chủ yếu là đề cập đến các nguyên lý, nguyên tắc của thuật Châm – Cứu và cách phối toa Thảo dược hỗ trợ Châm – Cứu.
Người đời sau gộp 2 cuốn này thành một cuốn gọi là “Hoàng Đế Nội Kinh” hoặc là “Hoàng Đế Nội Kinh Tố Vấn”.
Người ta còn nói rằng, Y thư cổ còn có cuốn “Hoàng Đế Ngoại Kinh” nữa, nhưng đã bị thất truyền. Có cổ thư còn nói sách “Linh Khu Tố Vấn” là một thiên, thuộc về “Hoàng Đế Ngoại Kinh” còn sót lại, nên người đời sau gộp chung với “Hoàng Đế Tố Vấn” để thành “Hoàng Đế Nội Kinh” như bây giờ.
Nhưng nói gì thì nói thì “Linh Khu Tố Vấn” cũng là một phần của “Hoàng Đế Nội Kinh” như các sách hiện xuất bản “hằng hà” ở ngoài tiệm sách. Hì ..hì… sách này ở Việt Nam “đầy”, mắc mớ chi phải đợi Lão Phu mang tận Hăm Bảo về. Vả lại Lão Phu cũng đâu có sách “Hoàng Đế Nội Kinh” ở trong tay chứ. Các trích dẫn trong Biệt lý Tam tiêu, chẳng qua là cách đây hơn 40 năm về trước, Lão phu đọc “Hoàng Đế Nội Kinh” đã ghi chép lại những phần mình tâm đắc mà thôi.
Từ biện chứng Tam Tiêu đến chứng ù tai
Mấy nay, có một bệnh nhân bị chứng ù tai (Tinitut) tìm đến chữa trị. Lão phu dựa vào biện chứng Tam tiêu, thấy người này có vấn đề về Hạ tiêu, lâu ngày dẫn đến Thận hư, gây nên chứng ù tai “bất trị”.
Lão phu dựa vào câu biện lý về Tam Tiêu ấy trong “Linh Khu Tố Vấn”, mà thiết lập ra y thuật: “Đảo ngược thủy đạo của Hạ tiêu” (Xem hình ảnh đính kèm). Chỉ cần “búng” mấy phát sơ sơ, chứng ù tai đã nằm qua mấy Bệnh viện, qua tay rất nhiều Giáo sư, Tiến sĩ Y khoa mà không đỡ tý nào, giờ qua mấy phát “búng” này, có muốn có lại vài tiếng u u… cho vui tai cũng không còn hy vọng nào nữa… hì.. hì.…
….Bởi vậy mới áy náy, mình “lừa” bọn “đệ” về cái vụ “Linh Khu Tố Vấn” đổi trà này, có cái gì đó sai sai… cho nên hôm nay mới hoạch toẹt ra cho chúng nó biết cho rồi, biết đâu chúng đọc lại “Hoàng Đế Nội Kinh”, thì cũng có khối người được nhờ… Lỡ sau này chúng không “cúng dường” trà xịn nữa thì mình lo đường khác… he…he…he….
Một vài ghi chép về Tam Tiêu biện chứng
Dưới đây là một vài ghi chép về Tam Tiêu biện chứng trong sách “Linh Khu Tố Vấn”. Mà tôi đã từng trích dẫn lại trong 6 Thiên luận “Biệt Lý Tam Tiêu” hơn 2 chục năm về trước.
Trích trong “Biệt Lý Tam Tiêu”:
….
“…Sách Linh Khu Tố Vấn viết:
– Bệnh Phong bắt đầu từ đâu mà trị?
– Trước dụng Tam Tiêu
– Bệnh Thấp lấy gì làm chủ?
– Tam Tiêu làm chủ
– Hư Hàn thủ trọng nơi đâu
– Trọng Tam Tiêu
….
– Chứng hỏa vượng gây huyễn vựng, đau đầu chóng mặt, ù tai, mặt phừng mắt đỏ, kinh giật, phong trụy… nên trị từ đâu (Áp huyết cao)?
– Tam Tiêu!
– Chứng bần huyết, xâm xẩy mặt mày, bồn chồn mất ngủ, tâm trí hư phiền nên dụng nơi nào?
– Tam Tiêu
……
– Nặng đầu, đau đầu, chóng mặt. Hồi hộp, đánh trống ngực. Đau vùng trước ngực, đau cấp ở tim. Bứt rứt, nặng mỏi, tê buốt ở chi. Tiểu đậm màu, lưỡi đỏ, có vết tím bầm. Mạch tế hoặc sác…. Tay chân lạnh, vã mồ hôi. Mặt môi xanh tím. Đau tức ngực, nghẹt thở… (Cơn đau thắt ngực. Thiếu năng vành.)… nên trị từ đâu?
– Tam Tiêu!
…..
– Đàm hỏa nhiễu tâm, vật vã, mất ngủ. Miệng đắng, họng khô, lưỡi đỏ, rêu lưỡi trắng dầy. Dễ kinh sợ. Cười nói huyên thuyên. Thao cuồng, đánh mắng người. Mạch hoạt, hữu lực. Đàm mê tâm khiếu. Tinh thần đần độn. Cười nói một mình. Đột nhiên ngã lăn, đờm khò khè. Rêu trắng dày. Mạch huyền hoạt. (Tâm thần phân liệt thể hưng phấn. Tâm thần phân liệt thể trầm cảm.) Trị như thế nào?
– Thanh Tâm tả hỏa trừ đàm khai khiếu. Thủ dụng Tam Tiêu.
…..
Chứng: cảm giác nóng trong người. Sốt về chiều và về đêm. Cơn nóng phừng ở mặt, ở ngực. Mặt đỏ, tay chân nóng. Ra mồ hôi tay chân. Mất ngủ, hay mộng mị, nói mơ. Bức rứt, giảm trí nhớ. Ngũ tâm phiền nhiệt. Tiểu đỏ, ít. Mồ hôi trộm. Đầu lưỡi khô. Rêu lưỡi khô. Mạch tế sác, vô lực (- Rối loạn thần kinh chức năng. Rối loạn thần kinh tim. Rối loạn thần kinh thực vật sau viêm nhiễm kéo dài. Suy nhược thần kinh.). Nên trị ra sao?
– Khai khiếu Tư dưỡng Tâm âm, an thần. Tư âm giáng hỏa, tiềm dương an thần. Trọng thủ Tam Tiêu….“
Có những người mà, không có quan hệ gì với mình, hoặc là mình chưa được gặp bao giờ, hoặc chỉ được gặp một vài lần, hoặc chỉ được ngắm nhìn họ từ xa, hoặc chỉ cần nghe họ nói có một câu, hoặc chỉ “nhìn” thấy cách họ sống và làm việc… vậy mà mình lại đem lòng “Thầm yêu Trộm nhớ” họ suốt cả cuộc đời….
Trong đời tôi, tôi cũng đã từng rơi vào hoàn cảnh “hiểm nghèo” như vậy… hì hì…
Người thứ nhất: Đức Đạt Lai Lạt Ma
Người thứ nhất, là người mà khi chỉ nghe Người ấy nói có một câu, trong một buổi trò chuyện thân mật đông người, tôi đã “vương vấn tơ lòng” từ dạo đó đến nay. Đó là Đức Đạt Lai Lạt Ma.
Câu nói đã hút hồn tôi vĩnh viễn “từ vô thủy đến vô chung” của Ngài là câu:
“… Thế giới ngày nay không cần có các nhà Bác học, các Chuyên gia, các Giáo sư Tiến sĩ… Không cần các nhà Triết học, các nhà Lãnh đạo nữa. Thế giới chỉ cần những người biết chữa lành…”
Người thứ hai: Đức Giáo Hoàng La Mã
Người thứ hai cũng là một Lãnh tụ Tôn giáo. Đức Giáo Hoàng La Mã. Ngài là người ở tận chót đỉnh của Danh tiếng, Phẩm hạnh và Quyền lực, vậy mà những lời dạy của Ngài lại rất đỗi thiết thực với đời thường.
Gần đây trong một cuộc trò chuyện với Giáo đồ, Đức Giáo Hoàng nói:
“Kẻ buôn chuyện nhiều nhất chính là quỷ dữ, luôn tìm cách nói xấu người khác, bởi vì người này là kẻ dối trá đang tìm cách chia rẽ cộng đồng, khiến các huynh đệ xa lánh nhau và phá vỡ xã hội, nơi mà ngày nay Kẻ buôn chuyện nhiều nhất thường tụ tập là Mạng xã hội”.
Ngài còn bổ sung thêm:
“Các anh chị em, làm ơn hãy cùng nỗ lực ngăn chặn không ngồi lê đôi mách như thế. Buôn chuyện là dịch bệnh còn tệ hơn cả Covid-19”.
Vào năm 2016, Ngài cảnh báo các linh mục và nữ tu không nên tiếp tay cho cái gọi là “Chủ nghĩa khủng bố của tin đồn nhảm”. Đến tháng 11.2018, Ngài kêu gọi những người hành hương hãy chú ý cẩn trọng lời nói, tránh nói xấu người khác, vì “cái lưỡi như con dao sắc có thể gieo rắc sự chết chóc”.
Chính những lời dạy “bình dị” và thiết thực này của Ngài, mà đã làm tôi đắm chìm vào sự yêu thương trìu mến Ngài đến vô tận tụy…
Người thứ ba: Vladimir Putin
Người thứ ba là một tay “anh chị” nổi tiếng trong giới “Nguyên thủ Quốc gia”: Vladimir Putin. Anh này là nguyên thủ “mấy đời” của một đất nước rộng lớn nhất của Thế giới ở Châu Âu nhưng lại rất mê Võ thuật và Triết học Á đông. Anh ta lãnh đạo một Quốc Gia “hầm hố” theo kiểu đánh Judo: “Các người ra đòn càng mạnh ta lại càng nguy hiểm hơn”.
Lãnh đạo của một Quốc Gia mà mỗi năm Dân số giảm đi gần 10 triệu người vì rượu Votka, vậy mà anh ta không uống thứ rượu này bao giờ.
Anh này có cách hành xử đời tư rất độc đáo. Anh ta chỉ tìm cách làm cho vợ bỏ mình, chứ mình không bỏ vợ, anh ta xúi giục con gái ruột của mình làm người tiên phong thử nghiệm Vaccine chống dịch Covid-19 để tuyên truyền cho Vaccine Nga….. v…v….
Đặc biệt là rất thường xuyên trốn đi “đánh lẻ” với Thiên nhiên một mình, là người khởi xướng và cổ súy thú ăn chơi độc đáo là: “Đến nơi xa vắng loài Người”.
Vladimir Putin có một đặc tính mà làm tôi “chết mê chết mệt” anh ta là, cho dù được tặng rất nhiều điện thoại di động loại xịn, nhưng anh ta không bao giờ sử dụng điện thoại thông minh. Putin đến nay vẫn chỉ dùng điện thoại có dây để liên lạc làm việc, và không bao giờ sử dụng mạng Internet.
Anh ta có một câu tuyên bố cực kỳ “tào lao” nhưng vô cùng dễ thương là: “Hơn 80% người dùng Internet là để xem phim sex”…. He he… he… Yêu thế!
…Là hôm em chuồn chuồn ớt
Về đây nhuốm lại màu đời
Cho anh một lần lại cháy
Trong màu rực rỡ sinh sôi
…..
Sức khỏe và lời chúc của Loài Người
Thông thường “Phong tục” của Loài Người, cho dù là Dân Tộc nào, Quốc Gia nào… trên Trái Đất thì ngôn ngữ xã giao khi gặp mặt, khi chia tay, trong lời khai mạc, trong lời bế mạc, trong lời chào đón hay lời tạm biệt… kể cả khi bắt đầu một lễ hội, hay kết thúc một sự “tưng bừng” nào đó… thì lời thăm hỏi cũng như sự chúc tụng cũng đặt vấn đề “Sức Khỏe” lên đầu tiên:
Câu hỏi: “Anh, Chị… Ông… Bà… có khỏe không?” là câu hỏi không thể thiếu trong những lời chào hỏi đầu tiên khi gặp mặt.
Lời cầu chúc, mong mỏi… khi chia tay vẫn luôn là câu nói dùng chung cho cả Thế giới loài Người: “Hãy bảo trọng, nhớ giữ gìn sức khỏe”.
Vậy mà tôi lại không mấy “hài lòng” khi được hỏi “Có khỏe không?” hay khi được nhắc “Hãy giữ gìn sức khỏe!”… hì hì…
“Lùi lại bao nhiêu rồi?”
Đối với những “Ông già” thuộc vào giới “tập luyện” như chúng tôi, khi đến tuổi cập kê với “cổ lai hy” thì câu hỏi mà chúng tôi muốn có để trả lời khi gặp mặt là: “Lùi lại bao nhiêu rồi”. Và lời chúc tụng mà chúng tôi muốn nghe để thực hiện là “Cố trẻ lại nhé”… he he… he…
Với giới “Tập luyện” của chúng tôi thì sức khỏe là cái “đinh” vì đó là thứ mà chúng tôi “thừa mứa”. Càng lớn tuổi sự mong mỏi của chúng tôi về Tâm thức là càng phải chín chắn, điềm đạm, uyên bác, vô ưu… như một người già đã 120 tuổi trở lên. Về Thể chất, chúng tôi lại mong mỏi sẽ trở về với tuổi “Ô mai”, hoặc chí ít thì cũng là tuổi “Đôi mươi”. Chính vì vậy khi chúng tôi gặp mặt nhau, thì không có hỏi han về Sức khỏe, mà hỏi han về “Sức trẻ”… hê… hê… hê…
Ví dụ, chúng tôi sẽ hỏi nhau khi gặp gỡ: “Lùi lại đâu rồi?”. Câu trả lời sẽ là: “Cỡ 50”, “Cỡ 40”…. hay là “Đôi mươi”… chẳng hạn.
“Mãi mãi tuổi đôi mươi”
Và khi chia tay chúng tôi rất ít khi chúc tụng bằng lời nói. Chúng tôi thường dùng biểu tượng của ngón tay để chúc nhau khi chia xa.
Ví dụ sẽ chìa 2 ngón, ngón trỏ và ngón giữa lên. Đó không phải là biểu tượng của chữ V của Victoria – Chiến thắng, mà ý nói là “Mãi mãi tuổi đôi mươi”.
Hoặc là dùng ngón trỏ và ngón cái khoanh lại vòng tròn để chúc nhau. Đó không phải là biểu tượng của chữ “OK” như thường lệ, mà đó là lời cầu chúc: “Cố trở về thuở Sơ sinh nhé”…
Nhiều khi tôi trộm nghĩ, các bậc Đế vương hay các vị Thánh hiền tu Tiên ngày xưa có ai được sung sướng khoái tỷ như tôi bây giờ không nhể. Chắc không đâu!!!… hì… hì… hì…
“Đế vương công” hay “Thần tiên pháp”
Mục đích sống của tôi là làm thế nào cho mình và mọi người luôn luôn được: “Khoan khoái – Vui vẻ – Khỏe khoắn”. Vụ này tôi thường gọi đùa là “Đế vương công” hay là “Thần tiên pháp”.
Tôi chả ham giải thoát đi đâu đâu cả, và cũng không muốn về miền Cực lạc hay Thiên đường nào hết. Cứ đời này, kiếp này, hiện tại này… khoan khoái dễ chịu, vui vẻ khỏe khoắn… mà không làm tổn hại đến ai là được. Chuẩn vậy mà tàn tàn hít thở thôi….
Khoan khoái rồi, vui vẻ rồi, khỏe khoắn rồi…. giờ lại nghĩ chuyện, bày trò khác cho nó áp phê hơn… he… he.. he….
Chuyện “cổ thư” và đêm rằm tháng 7
Nghe “cổ thư” nói rằng đêm trăng tròn tháng 7 Âm lịch, lấy hoa hồng làm bồ đoàn tọa thiền, hay làm gối ngọa tàm thì trong mộng gặp được “Ma nữ đa tình”.
Lấy oải hương mà làm thì mộng có được “Hồ ly thành tiên”. Lấy cúc hoa mà làm ắt có “Thanh xà, Bạch xà tu ngàn năm” về bầu bạn.
Nếu trộn cả Hồng hoa, Oải hương và Cúc hoa mà làm thì chắc chắn sẽ có các “Chị em họ” của Hằng Nga xuống múa hát, quấn quít, ngả ngớn mua vui….
Toàn đực rựa… He he he… Chán!
Bố khỉ! Mình nghe làm theo, làm riêng từng gối và cả trộn chung. Loay hoay hết tọa lại ngọa suốt cả đêm 14 và đêm 15 trong rằm tháng 7 này.
Chả thấy Tiên nữ, hay Ma nữ nào giáng trần cả. Trong mơ mơ màng màng chỉ thấy mình ngồi đánh cờ với mấy ông bạn cũ, và ngồi uống trà với mấy thằng đệ.
Từ nhà tôi đến chỗ làm việc cách khoảng 3 cây số. Đi phương tiện gì cũng lỡ cỡ. Đi ô tô thì vừa chưa đạp lún chân ga thì đã tới nơi. Lúc về, lòng vòng cả tiếng chưa chắc đã tìm ra chỗ đậu xe. Đi xe bus thì mất công móc vé ra trình, rồi trèo lên chưa kịp yên vị đứng ngồi gì thì đã phải trèo xuống. Vì vậy mưa nắng hay gió tuyết gì tôi cũng quyết định đi bộ cho nó có “phẩm vị”.
Người Đức có cái lạ là đẳng cấp thứ bậc phẩm vị đáng trân trọng của những người đi làm không phải là ở chỗ bạn làm chức vụ gì, và lương, thu nhập nhiều hay ít. Mà phẩm vị được đánh giá cao nhất của người đi làm có đóng thuế là dành được bao nhiêu thời gian cho việc nghỉ ngơi và có bao nhiêu thời gian tiếp cận được với thiên nhiên.
Ở Đức bạn không lo thiếu đồ ăn ngon, không lo thiếu áo quần đẹp, không lo không có chỗ ở, và bạn cũng không phải cần lo lắng cho việc học hành sinh hoạt của con cái. Nếu bạn không nghiện ngập một cái gì đó thì cuộc sống cỡ gì cũng OK. Tất cả đều có nhà nước lo. Ở Đức nhà đông con, hay hưởng trợ cấp xã hội có cuộc sống sung túc hơn, tiêu pha xả láng hơn người đi làm là chuyện bình thường.
Trong hàng phẩm vị cao (Những người đi làm có đóng thuế) thì thứ hạng phẩm vị được đánh giá qua phương tiện đi làm.
Người được trân trọng nhất là người đi bộ đi làm, kế đến là người đi xe đạp, sau đó là người đi làm bằng phương tiện công cộng, cuối cùng mới là người đi làm bằng ô tô cá nhân. Các bạn nghĩ là tôi nói ngược cho vui chăng. Không đâu, sự thật là như vậy đấy.
Người Đức rất sợ áp lực của Stress, cho nên ai không có điều kiện đi bộ, đi xe đạp đi làm hoặc bắt buộc phải đi làm bằng ô tô cá nhân thì khá tội nghiệp, vì họ sẽ có rất nhiều áp lực về kẹt xe và áp lực về chỗ đậu xe trong thành phố… Bởi vậy mỗi lần bệnh nhân hỏi tôi đi làm bằng phương tiện gì, tôi trả lời là đi bộ với một thần thái rất tự hào, và họ cũng có chút ghen tỵ.
Chỉ có những người có sức khỏe và yêu sức khỏe mới đi làm bằng xe đạp hoặc đi bộ, và phải là cực kỳ may mắn mới có cơ hội, nơi làm việc và nhà ở gần đến độ có thể đi bộ được.
Vậy đó, tôi nói đi bộ đi làm cho có phẩm vị là vì vậy đó… hì..hì…
Ngã tư và những người vô gia cư
Ngặt nỗi, đường bộ đi làm của tôi khi nào cũng phải đi băng qua một trạm xe bus và tàu điện, mà trạm này lại là trạm đầu mối nằm ngay ngã tư giao thông quan trọng nhất của quận Altona của thành phố tiểu bang Hamburg.
Ngoài việc lượng người đi lại đông đúc ra, thì ở ngay hướng đường tôi phải đi qua lại có 2 tụ điểm của người vô gia cư thường tụ tập để bia rượu và hút xách. Khá bất tiện và không được thoải mái khi phải đi xuyên qua tụ điểm của đám người này.
Tuy họ rất lành, không gây hại hay cản trở gì, nhưng ở nơi họ thường tụ tập có một trường năng lượng rất bẩn và ô trược. Có đạt trình vô nhiễm đến đâu, khi còn nhìn, còn nghe, còn có cảm xúc thì vẫn có cảm được thứ gì đó không an lành lắm khi đi ngang qua chỗ đó. Trường năng lượng này không đến nỗi tàn hại như trường năng lượng của sự ghen tuông đố kỵ… nhưng cũng không được sạch sẽ an bình, nó thuộc vào loại nên tránh càng xa càng tốt…
Tin về Peter
Trong đám người vô gia cư thường tụ tập xung quanh nhà hát Neue Flora ở ngã tư này có một người tôi quen là anh Peter. Chuyện về Peter tôi đã có kể trong một vài Statut chuyện đời rồi. Chỉ bởi mấy tuần nay tôi không thấy bóng dáng Peter đâu, nên hôm qua đi làm về, tôi có lân la đến chỗ mấy người đang ngật ngừ tụ tập ở đây để hỏi tin.
Một người trong đám họ, giọng nhừa nhựa hỏi tôi có phải là Herr Le không. Tôi gật. Người này đưa cho tôi cái bật nắp chai có cán bằng sừng hươu, và nói của Peter gửi lại.
Tôi hỏi Peter đâu. Anh ta vẫy tay bảo tôi đi theo. Ra đến vườn cây phía sau nhà hát, người này chỉ vào cái ghế đá, phía dưới có đặt mấy ngọn đèn cầy và vài nhành hoa héo, bảo Peter đấy.
Tôi thoáng rùng mình hỏi lại, Peter chết lúc nào. Người này nói vào cuối tuần thứ 3 của tháng 8. Tôi sững sờ, hèn chi lâu lâu rồi tôi không gặp và không gật đầu chào anh ta mỗi khi đi làm ngang qua ngã tư này…
2. Chuyện về Peter và một lời hẹn
Chuyện về Peter tôi đã kể nhiều lần, nhưng có lẽ cũng nên nhắc lại một chút.
Tôi biết Peter cách đây khoảng 10 năm về trước. Hồi nhà hát Flora vẫn đang còn trình diễn vở nhạc kịch Vua Sư Tử. (Nhà hát này diễn một vở diễn cũng phải vài ba năm. Riêng vở nhạc kịch Vua Sư Tử phải diễn lâu đến gần 15 năm mới chuyển qua vở khác).
Lúc tôi đi làm, có để ý đến một người đàn ông, tay cầm chai bia mở nắp, bên cạnh có thêm một chai chưa khui, ngồi bên này ngã tư nhìn chăm chăm sang nhà hát như không hề chớp mắt. Buổi sáng đi làm cũng thấy tư thế đó, buổi chiều đi làm về cũng thấy tư thế đó, chỉ khác hơn là chai bia thứ hai đã mở nắp mà thôi.
Nhiều ngày như vậy, thấy lạ nên tôi mới lân la làm quen. Hỏi ra mới biết là anh ta đang đợi một người. Tôi ngạc nhiên, đợi ai mà đợi ngày này qua ngày khác vậy. Anh ta kể…
Một nụ hôn trong nhà hát
Anh ta tên là Peter, là kỹ sư chế tạo máy làm ở hãng Airbus A380. Một lần đi xem nhạc kịch ở nhà hát này. Trong lúc xem đến đoạn cao trào, anh ta được một khán giả ngồi bên cạnh cầm lấy tay, và có hôn anh ta một nụ hôn khi tình tiết của vở kịch ở lúc xúc động nhất.
Tan kịch, người khán giả ngồi cạnh ấy xin lỗi về sự đường đột. Peter tỏ ra rất hạnh phúc và nói với cô gái ấy rằng, chưa có khi nào trong cuộc đời anh ta có cảm giác hạnh phúc lâng lâng đến như vậy.
Lúc chia tay, Peter bịn rịn, xin nắm tay cô gái ấy một lần nữa và hỏi có cơ hội gặp nhau nữa không. Cô gái ấy nói nhất định sẽ gặp lại vào những vở diễn sau.
Ngày này qua ngày khác, Peter vẫn đợi
Khi nhà hát đổi vở diễn, Peter ngày nào cũng đến đây ngồi đợi. Đợi ngày này qua ngày khác. Đợi cho đến khi Peter xin nghỉ thất nghiệp để ngồi đợi kẻo sợ lỡ bỏ cơ hội.
Nhà hát lại đổi vở diễn mới. Peter từ hưởng trợ cấp thất nghiệp chuyển sang trợ cấp xã hội. Từ chỗ một Kỹ sư có công ăn việc làm ổn định, có nhà cửa đàng hoàng trở thành một người gia nhập vào cộng đồng vô gia cư.
Khi thấy Peter đã tăng 2 chai bia lên thành 5 chai, rồi 7 chai theo năm tháng chờ đợi của anh ấy… tôi rất bất bình, trách cứ Peter tại sao lại phá hỏng cả đời mình vào một sự chờ đợi vô vọng đến vô lý vậy.
Peter mỉm cười nhìn tôi nói, tại sao là vô vọng, tại sao lại vô lý… Peter nói, anh ta rất tin tưởng vào lời hẹn gặp lại của cô gái ấy, và anh ta cảm thấy rất an lành và vui vẻ hạnh phúc khi chờ đợi ngày cô ấy xuất hiện trở lại.
Tôi hỏi Peter rất nhiều về cô gái đã có lời hứa làm cho Peter phải phá hỏng đời mình vì chờ đợi. Cho dù Peter diễn tả, diễn giải cỡ nào tôi cũng cảm thấy rất mơ hồ. Mỗi lần thấy tôi tỏ vẻ không tin tưởng vào sự chờ đợi của Peter, anh ta khá bực mình và luống cuống lấy chai bia này bật nắp chai bia kia liên tục, nhưng không uống.
Có lần Peter lôi trong túi cái mở nắp chai mà tôi tặng anh ta ra nói: “Cũng như việc cậu tặng tớ cái mở nắp chai này vậy, cậu hoàn toàn không hiểu gì về người uống bia cả, không phải là tớ không có tiền mua cái mở nắp chai, mà cái thú của người uống bia chuyên nghiệp là khoảnh khắc chờ đợi những hớp bia khi lấy cái chai này kê bật nắp của chai bia kia, bụp… tung nắp và từ từ từng hớp mát lạnh… đó là sự sung sướng, cậu không hiểu nên mới mua cái mở nắp này tặng tớ. Cũng như cậu không hiểu gì về hạnh phúc, nên mới không tin vào sự chờ đợi.”
Tôi cứng họng.
Một “âm mưu” để thức tỉnh Peter
Cho đến khi sau 7, 8 năm gì đó, khi thấy loạt chai không để bên cạnh chỗ ngồi đợi của Peter có vẻ hơi đông đông và thần thái của anh ta cũng như đơ đơ. Tôi sợ anh ta sẽ lại như đám người vô gia cư kia, lại thất thần vì hút bồ đà nên tôi ủ một âm mưu. Tôi hỏi rất kỹ về vóc dáng, tóc tai và cách trang phục của cô gái mà Peter chờ đợi.
Rồi tôi tìm Klara, một cô gái mà tôi quen biết. Cô này cũng có một lần sa vào sự chờ đợi ngớ ngẩn như Peter. Cũng mất nhiều năm chờ đợi một bóng người trên một chuyến tàu làng. Để rồi cuối cùng cũng tỉnh ngộ ra hạnh phúc mông mênh đã hoang phí tuổi xuân của mình.
Tôi kể cho Klara nghe chuyện của Peter, và nhờ Klara đóng một vở kịch để thức tỉnh Peter.
Ban đầu Klara từ chối, vì nói việc làm của tôi vô ích. Nhưng vì tôi năn nỉ quá nên Klara nghe theo.
Một hôm tôi bảo Klara xuất hiện bên kia cửa nhà hát lúc tan kịch, bên này tôi giả vờ hốt hoảng vỗ vai Peter chỉ sang phía Klara. Peter lắc đầu. Tôi thì khẳng định chắc chắn, và chạy sang kéo Klara sang chỗ Peter.
Peter chào hỏi Klara xong quay sang vỗ vào tôi nói: “Xin lỗi cô, chỉ vì ông bạn tốt bụng của tôi mà đã làm phiền đến cô”.
Klara mỉm cười nói: “Tôi cũng đã từng như bạn, nên tôi hiểu cảm giác của bạn”…
Dự đoán của tôi không sai, mấy năm gần đây Peter không chỉ nghiện bia mà còn nghiện luôn hút bồ đà. Peter đã thay đổi rất..rất nhiều, chỉ duy có niềm tin chờ đợi là không thay đổi….
3. Muôn trùng chờ đợi
Từ đầu năm nay đến giờ, nhà hát thực hiện luật giãn cách xã hội vì đại dịch Covid-19, nên không có suất diễn nào. Tôi thấy Peter suy sụp hẳn đi. Tôi đã lo lo.
Vì cho dù có mơ hồ đến đâu, nếu nhà hát còn suất diễn thì sự chờ đợi của Peter vẫn còn có cơ sở để hy vọng. Nếu nhà hát không có suất diễn, thì sự chờ đợi của Peter sẽ trở nên vô vọng, mà sự chờ đợi này vốn là nguồn sống duy nhất còn lại của Peter. Không còn sự chờ đợi, tôi e rằng Peter sẽ sụp đổ hoàn toàn.
Và lo ngại của tôi đã thành sự thật. Peter đã gục chết trong muôn trùng chờ đợi vào ngày 22.08.
Tôi đặt hoa và đèn cầy lên chiếc ghế đá phía sau nhà hát, nơi người ta đã có đặt sẵn mấy cây đèn cầy và hoa để tưởng niệm Peter. Nghe nói người ta phát hiện ra Peter nằm chết trên chiếc ghế đá này.
Vậy là Peter đã kết thúc được sự khắc khoải chờ đợi của mình. Không biết Peter có hạnh phúc không, nhưng tôi tin rằng khoảng thời gian hơn 10 năm chờ đợi này của Peter là khoảng thời gian ấn tượng nhất của cuộc đời anh ấy.
Tôi lôi cây Thất thương tiêu luôn mang bên mình ra, ngồi xuống trên thảm cỏ và tùy hứng thổi một khúc nhạc. Trong tiếng tiêu hôm nay của tôi, hình như tôi mơ màng thấy có hình ảnh của Peter ôm chầm lấy người mình chờ đợi….