Nụ Cười Của “Nước Mắt” – Chuyện Đời, Phần 2: Con Câm

(Nụ cười của “Nước Mắt” – Phần 2)

1. Người đàn bà “tham lam”

Cô Diệu Ngọc hoảng hốt ngăn người đàn ông đang định hướng điện thoại vào phía người đàn bà để quay clip: “Thôi bỏ qua đi chú, đừng quay đưa lên mạng rồi làm khổ người ta”. Người đàn ông ăn mặc sang trọng, tắt điện thoại không quay nữa nhưng vẫn hậm hực: “Cữ người này mà thương hại gì Cô ơi, đúng là lòng tham không đáy mà…”

Đoàn cứu trợ của một chi hội Phật tử từ TP. Đông Hà, Quảng Trị ra đến chợ Mai trên địa bàn xã Cam Thủy giáp ranh với xã Tân Thủy thì dừng lại, vì ngã rẽ từ quốc lộ 1 vào thị trấn Kiến Giang vẫn còn ngập sâu, xe cơ giới chưa vào được. Tổ chức đoàn liền cho người báo với UBND xã, xin phép được phát chẩn cứu trợ cho dân vùng ven Quốc lộ từ đoạn Cam Thủy xuống Hồng Thủy.

Khi đoàn đang cứu trợ cho mấy lán sơ tán trên cồn cát và dân vùng lân cận thì phát hiện ra một người phụ nữ luống tuổi cố tình chen vào hàng người được cứu trợ đến lần thứ 3. Người phụ nữ này mỗi lần đến nhận hàng đều cố tình choàng che mặt bằng một tấm khăn màu khác nhau. Người trong đoàn nhận ra bà ấy là vì cách nhận hàng cứu trợ của mỗi lần đều rất giống nhau.

Bà ta chỉ lấy cái túi có 2 kg gạo, mà len lén bỏ lại 4 gói mì tôm, 1 cái bánh chưng và 2 chai nước lọc. Bà ta đã lấy 2 lần như thế, đến lần thứ 3 thì bị phát hiện. Người ta quát đuổi bà ta đi, và thậm chí có người còn nguyền rủa lòng tham không đáy của bà ta, có người còn chửi, đã đói rét rã họng ra mà còn chảnh, còn chọn lựa đồ ngon mới lấy nữa chứ, đồ nghèo mà ham…

Người đàn ông ăn mặc sang trọng là “mạnh thường quân” tài trợ cho đợt cứu trợ này, lúc nãy ông ta định quay clip ghi lại sự “tham lam” của dân vùng rốn lũ, nhưng vì nể Ni Cô Diệu Ngọc nên thôi.

Người đàn bà bị bắt quả tang vì tính tham lam, bị xua đuổi ra khỏi địa điểm cứu trợ như đuổi tà. Trước khi đi bà ta còn quay lại chỉ chọc, thì thầm gì đó với mấy người xếp hàng phía sau, rồi mặt đổ sập xuống một đống lùi lũi bước ra sau cồn cát.

Những bao gạo phía sau cồn cát

Khi thấy có mấy người nhận hàng xong đi ra sau cồn cát, phía người đàn bà tham lam vừa đi ra hướng đó, khi họ trở lại thì trên tay không còn bao gạo 2 kg nữa, mà chỉ còn mấy gói mì tôm và cái bánh chưng.

Người đàn ông sang trọng lén đi theo và phát hiện ra một chuyện động trời, mấy người nhận hàng cứu trợ xong thì đi ra sau cồn đưa cho người đàn bà kia các túi gạo của họ vừa nhận được. Thấy vậy người đàn ông sang trọng liền hô hoán lên, gọi mấy người trong đoàn đến bắt quả tang.

Mấy người dân đưa gạo bỏ chạy mất hút, chỉ còn người đàn bà tham lam ngồi ôm mấy bao gạo khư khư trong lòng.

Người đàn ông sang trọng giận dữ hét to lên bảo mấy người bắt người đàn bà tham lam kia lại, giải lên Ủy ban xã để làm cho rõ chuyện. Ông ta nói như hét: “Chắc lại là loại đầu nậu, chấn lột hàng cứu trợ của dân gặp nạn đây mà, nhất định phải làm cho ra chuyện, không thôi để các loại người này cứ tồn tại là làm băng hoại giá trị đạo đức xã hội ngay…”

Ni cô Diệu Ngọc thấy vậy lại chạy đến lần nữa can ngăn: “Phải hỏi lại cho rõ nguồn cơn đã chú, nếu có gì khuất tất, tội người ta”.

Người đàn ông dứt khoát: “Thưa Cô, lần này thì không được, làm quá thế này là không được, Cô cứ để con xử, với hạng người này mềm lòng với họ là không được”.

Ni cô Diệu Ngọc thở dài im lặng. Cô không làm gì được, vì người ta là người tài trợ, người ta có quyền. Cô nhẹ nhàng tiến tới hỏi chuyện người đàn bà kia. Người đàn bà, không nói gì chỉ lắc lắc đầu, vẻ mặt cầu xin rất thảm não.

“Thím Con Câm”

Người đàn ông sang trọng cùng mấy người trong đoàn bắt giải bà kia về trụ sở UBND xã. Cô Diệu Ngọc thấy bất an nên cũng lầm lũi theo họ về trụ sở ủy ban.

Người trực trụ sở Ủy ban, thấy đám người lùm xùm nắm cổ tay người đàn bà kia kéo đến thì vội vàng chạy ra, vừa hất tay nắm của mấy người kia, vừa chụp lấy vai của người đàn bà tham lam xuýt xoa hỏi: “Thím Con Câm, thím lại gây rắc rối gì nữa đây, có ai đánh đập gì thím không”.

Người đàn bà tham lam mà người trực ủy ban xã gọi là “thím Con Câm”, vừa đưa tay khoáng, vừa ú ớ một hồi liên tục. Người trực ủy ban lắng nghe xong gọi lớn vào trong nhà: “Thằng Bi, thằng Lì đâu nhanh ra đây chú nhờ”.

Phía trong trụ sở hai thanh niên lực lưỡng bặm trợn chạy ra. Thấy người đàn bà tham lam bị vây hãm giữa đám đông, liền hùng hổ bước đến la lên sang sảng: “Ai… ai… ai dám đánh Con Câm hả, đứa nào dám đánh bà ấy”.

Người trực Ủy ban, nạt to: “Bi, mày không được hỗn, chỉ là hiểu nhầm thôi, bây giờ con vào lấy thêm 2 bao gạo 10 kí trên bàn của chú, rồi chở Con Câm đến chỗ bà, con chở bà về, nếu bà cần thì ở lại giúp bà ấy luôn”.

Gã thanh niên có tên là Bi, hầm hầm nhìn đoàn người cứu trợ đã bắt người với cái nhìn rất hằn học, rồi lặng lẽ bỏ vào trong.

Sự thật về những bao gạo

Khi thằng Bi hối hả chở Con Câm đi rồi, người trực Ủy ban mới điềm tĩnh giải thích với đoàn:

– Bà ấy là người trên T. Bằng, bị câm điếc từ nhỏ, mấy hôm rồi có chú T. dưới T.Lỵ, khi nước dâng cao, nhà nào cũng lút nóc, nhà chú T ở nơi khô ráo, nên chú T có nấu cơm đưa đến cho từng nhà bị ngập nặng ở dưới T.Lạc.

Bà Con Câm cũng là người phụ giúp chú T rất tích cực, bà ấy có tài bơi lội, hì hục cả đêm, không có ngõ ngách nào trong thôn mà bà không đưa cơm cứu trợ cấp bách đến cho họ.

Mấy nay nước rút, quốc lộ đã thông, đã có cứu trợ, vả lại nhà chú T lại không còn gì nấu nữa, nên chú ấy cho dừng bếp.

Con Câm không cam chịu vậy, bà ấy nói, người lớn thì kệ, nhưng bọn con nít dầm nước bạc lâu ngày, không thể để bọn trẻ ăn mì tôm và đồ nếp hoài được, người lớn dầm nước bạc, ăn mì tôm mãi còn bị nhiệt lỵ huống gì là trẻ con, vì vậy bà ấy về T.Bằng tự lập bếp riêng, đôn đáo khắp nơi đi xin gạo, xin rau về nấu cơm đưa đến cho tụi con nít trong vùng.

Tội, tối qua còn đạp xe vô tận trong Vĩnh Mốc xin tép khô về làm cơm cho tụi nhỏ nữa. Bà ấy câm không nói được, có gì làm phiền, xin quý vị rộng lòng bỏ qua cho.

Gã thanh niên lực lưỡng, vai u thịt bắp tên là Lì, nhìn đoàn người cứu trợ nói như mếu: “Mấy người ỷ thế có tiền, rồi ăn hiếp Con Câm của tụi tui, mấy người căng biểu ngữ băng rôn hà rầm rứa, nhưng có giúp được dân tui như bà câm không, mấy người thiệt tình…” Gã vừa nói vừa mếu máo chùi nước mắt…

Hai dòng nước mắt của Ni cô Diệu Ngọc

Cô Diệu Ngọc, im lặng từ nãy đến giờ không nói gì. Hai tay Cô chấp vào trước cố kìm cơn run bần bật, không biết Cô bị lạnh hay vì xúc động.

Khi đoàn người bắt bà Câm đã được giải tỏa sự hiểu lầm kéo nhau đi làm từ thiện tiếp, thì Ni cô Diệu Ngọc xin ở lại. Cô xin người trực Ủy ban được đến thăm bếp cứu trợ của bà Câm. Người trực Ủy ban, nói Cô đợi một chút, để gọi người nhà đưa xe máy đến, rồi bảo thằng Lì chở Cô đi.

Cô Diệu Ngọc vào trong trụ sở Ủy ban ngồi đợi. Thằng Lì cũng vào ngồi đợi để chở Cô đi. Sau khi vào trong, Ni cô hỏi thằng Lì, tại sao bà Câm đứng tuổi rồi, lại tốt bụng như thế mà ai cũng gọi bà là Con Câm vậy.

Thằng Lì cười hì hì nói, nó không biết, từ lúc nó đẻ ra được bà ấy xoa đầu lớn lên đến nay đều nghe người ta đã gọi vậy rồi.

Cô hỏi, sao lại bà Câm xoa đầu. Thằng Lì kể là, hiềm mỗi khi trong thôn, trong xóm có ai sinh con, cũng đều mời Con Câm đến xoa đầu đứa bé sơ sinh hết, người ta nói mấy đứa trẻ được bà xoa đầu sau khi sinh, lớn lên đều khỏe mạnh, không đau ốm bệnh tật gì cả.

Thằng Lì gồng bắp tay cuộn cuộn của nó lên nói, Cô xem này, con cũng được Con Câm xoa đầu nên giờ mới khỏe mạnh ri đọ.

Ni cô Diệu Ngọc, nghe thằng Lì thỉ thỉ kể chuyện bà Câm, ngồi xuống khoanh chân, mắt nhắm hờ và lầm bầm: “Ly bà ly bà đế, câu ha câu ha đế, ni ha ra đế, đà ra nị đế, tỳ lê cẩn đế, ma ha đà đế, chân lăng càng đế. Ta… bà… ha…”.

Hai dòng nước mắt chảy dài trên gò má của Ni cô, và rơi xuống mỗi khi Cô ngân dài âm “ê” của mỗi đoạn của câu chú….

2. “Rứa mới kêu là vô thường eng hè…”

Thằng T, kể cho tôi nghe chuyện này, khi tôi gọi điện thoại hỏi thăm lụt lội nhà hắn. Nó là em họ, con cô ruột của tôi, hiện ở dưới làng T.Lỵ.

Tôi hỏi chuyện và tỏ ra khâm phục và khen ngợi hết lòng trước việc làm cứu trợ bữa cơm cấp bách cho dân làng khi đỉnh lũ ập về bất chợt. Tôi nói với nó, chú quá xuất sắc.

Nó cười hô hố trong điện thoại: “Xuất sắc gì eng ơi, mấy bựa rồi vét hết đồ ăn và gạo nấu cơm cứu trợ, chừ nhà không còn chi ăn, nhà em cao ráo khang trang, nên không có đoàn cứu trợ nào cho chi cả, chút nữa em phải lên bếp Con Câm xin mấy suất về cho tụi nhỏ đây… hô..hô… rứa mới kêu là vô thường eng hè…”.

Tôi cũng méo xệch cười theo nó hì hì….

27.10.20

Thuận Nghĩa

Nụ Cười Của “Nước Mắt” – Chuyện Đời Ở Lệ Thủy, Phần 1

1. Nụ cười sau nước lũ

…Sáng nay nước rút, nghe nói mấy xã cao cao một chút đã có điện. Đã thấy anh Ba tôi ở quê lên “tút” ở trên “phây”. Hôm nay sinh nhật ổng, ổng lên “tút” là một cái clip đang chống bè chuối lướt trên đường làng, vừa lướt bè vừa cười phe phé… hỏi to một mình: “Trời… trời… cá nhà ai mà thả nuôi trên đường nhiều ri hè…”.

Ổng cười giòn phết, tôi không biết kiểu cười ấy có hàm chứa chút chua chát nào hay không, vì tôi biết chắc chắn trong trận lụt này, mấy cái ao cá mà ổng om nuôi cả năm nay không còn một con… Nhưng tôi biết ổng cười rất lạc quan.

Tôi nhắn tin hỏi đùa ổng: “Toe tua chưa đủ hay sao mà cười dữ vậy cha nội…”. Ổng nhắn tin: “He.. he… cười mà làm lại từ đầu chơ răng chú mi, khóc than được ích gì…”.

Tôi nghe ổng nói cái cụm từ “…Làm lại từ đầu” mà chua chát.

Làm lại từ đầu, làm lại từ đầu… năm nào cũng phải làm lại từ đầu. Mấy chục năm nay rồi, từ khi tôi có nhận thức, tôi đã tận mắt mình chứng kiến tất cả.

Đúng!, dân quê tôi năm nào chẳng “làm lại từ đầu” tất cả. Năm nào cũng phải làm lại từ đầu, không nghèo mới lạ.

Có điều nghèo gì thì nghèo, dân quê tôi lại không nghèo nụ cười, nụ cười của lòng tin, nụ cười của lạc quan, nụ cười của sự cam chịu, nhẫn nại… để động viên mình, động viên nhau làm lại từ đầu…

Những người Thầy giữa thời nghèo khó

…Tôi còn nhớ, hồi ấy anh Ba tôi làm giáo viên tiểu học trong Triệu Trạch, Quảng Trị. Mùa hè năm 1979 tôi tìm đến thăm ổng. Tối hôm tôi đến, ổng cùng mấy Thầy cô trong trường tụ tập đàn hát nghêu ngao trên cồn cát nơi mé biển.

Khi thấy ổng len lén đi vào trong hàng dương thì thầm với ai đó, tôi cũng lén đi theo… Khi trở vào, tôi hỏi ổng, anh đi nói chuyện với ai vậy. Ổng cười hê hê… bảo: “Nói chuyện với mấy đứa học sinh đến nộp bài”.

Nghe ổng nói vậy, tôi cũng cười cười phụ họa nhưng không nói gì. Vì trước đó, tôi rình nghe, thấy ổng thì thầm với đám học sinh, là cố gắng tìm đâu đó mua chịu cho Thầy mấy lon gạo, mai Thầy chiêu đãi em Thầy mới ngoài quê vô thăm.

Trưa hôm sau, trong bếp ăn tập thể của trường. Tôi thấy các thầy cô đồng nghiệp của ổng ăn rất ít. Mới có lưng bát, mà ai cũng vỗ bụng kêu no rồi bỏ đi.

Tôi hỏi anh Ba tôi, sao các thầy cô ăn ít vậy… Ổng lại cười hê hê… nói là các Thầy cô để dành bụng chiều nay đi ăn tiệc tổng kết thi đua. Tôi không nói gì, cũng hì hì cười theo.

Sáng đó, tôi đã nghe các cô trong trường thì thầm với nhau là đã cho người nằm chờ ở kho lương thực trên Thành Cổ, chờ 3 ngày rồi mà vẫn chưa mua được cân gạo nào trong tiêu chuẩn gạo của 2 tháng trước. Gạo mốc cũng không có, lấy gì mà ăn tiệc.

Tôi biết các thầy cô ấy, nhịn ăn để dành cho anh Ba đãi em út cho “phủ phê”.

Cái quần để lên lớp

Cũng lần đến thăm đó, khi đã đến giờ thay tiết lên lớp, tôi thấy anh Ba vẫn chưa đi. Hỏi, thì ổng bảo phải chờ thầy “P” trên lớp về để đổi cái quần đã mới lên lớp dạy được.

Tôi hỏi, răng lại đổi quần. Ổng chìa mông ra cười hê hê… “Mi coi, e mang cái cùn trôộng khu ni mà lên lớp à” (Mày xem, chắc mặc cái quần lủng đít này mà lên lớp à).

Hôm đó, thấy 2 thầy hối hả thay quần cho nhau như kiểu cha con Chữ Đồng Tử thay khố mà lòng tôi quặn thắt lại.

Thời đó nghèo đến thế, “Khố rách, áo ôm” đến thế mà họ vẫn cười, vẫn hát hò, vẫn ung dung, đạo mạo… làm tròn bổn phận của người Thầy nơi chốn “Khỉ ho cò gáy” ấy…

Nụ cười từ những năm chiến tranh

…Tôi nhớ hồi anh Ba bị thương do bom Mỹ, anh bị cụt một ngón tay, đầu mặt bị găm mấy mảnh bom, đầu gối, mắt cá, cẳng chân, cẳng tay đều gãy và dập nát, phải bó bột rất nhiều ngày.

Hồi đó chiến tranh vùng giáp ranh rất khốc liệt, nên công tác cứu hộ Y tế không có. Việc phục hồi hậu thương vong chủ yếu là gia đình tự làm.

Cha tôi không biết bó bột cho anh Ba tôi kiểu gì, tôi còn nhỏ không còn nhớ. Nhưng tôi nhớ mang máng là anh Ba phải bó bột rất lâu, và hình như vết thương phải mấy năm sau mới lành được thành sẹo, và anh Ba phải ngồi xe lăn tự chế trong thời gian rất lâu.

Vì bó bột chân tay lâu ngày, lại không có thuốc men sát trùng gì, nên vết thương của anh Ba rất hay mưng mủ và bị sinh dòi phía trong lớp bó bột.

Vì vậy nên anh Ba thường có một cái que sắt đầu uốn cong để luồn vào trong lớp bột bó để gãi ngứa và móc mấy con dòi lúc nhúc trong vết thương ra.

Trò chơi “ngựa đua”

Hồi đó, tôi và anh Ba có một trò chơi rất quái đản (bây giờ nghĩ lại vẫn còn rùng mình không dám nghĩ tới). Đó là khi anh Ba móc mấy con dòi trong vết thương từ trong lớp băng bột ra. Chúng tôi, mỗi đứa sẽ chọn một con mập nhất để làm “ngựa đua”.

Chúng tôi bỏ 2 con dòi lên đầu này tấm ván, đầu kia bỏ tấm gạc lôi từ vết thương của anh Ba ra. Các con dòi này sẽ đánh hơi tấm gạc thấm máu mủ và bò về hướng đó.

“Ngựa” của ai bò đúng hướng tới trước thì thắng.

Nếu anh Ba thắng, thì tôi phải đẩy xe lăn của ổng đi chơi đâu tùy ổng định đoạt. Nếu tôi thắng thì ổng phải cho tôi mấy viên Polyvitamin màu vàng vàng ngọt ngọt trong tiêu chuẩn của ổng.

Lần nào “ngựa” tôi chọn kiểu gì cũng thua.

Mỗi khi hỏi ổng bí quyết chọn “ngựa”, ổng đều lim dim mắt, thò cái móc sắt vào trong lớp băng bột, móc rồn rột… mỗi khi móc bật ra một con dòi trắng phau, ổng lại cười cười hê hê… “Đợ ngá thiệt, đợ ngá thiệt…” (Đỡ ngứa thật, đỡ ngứa thật)…

Nụ cười của “Nước Mắt”

Nụ cười này của ổng tôi đã quen quen. Hôm nay nước rút, thấy ổng chống bè chuối đi thăm hàng xóm, vừa chống bè vừa hỏi cá ai nuôi thả trên đường… vừa cười hê hê… Tôi đã nghe quen nụ cười này rồi mà vẫn xót….

Quê tôi có tên gọi là “Lệ Thủy”. Lệ thủy là nước mắt. Tên gọi là “nước mắt”. Nhưng dân tôi ít khóc lắm.

Có lẽ trời “khóc” làm mưa lũ đủ rồi, cho nên dân quê tôi rất hay cười.

Ai nói gì thì nói, ai làm gì thì làm, dân quê tôi biết, chỉ có nụ cười mới đem lại nguồn sinh lực mới cho họ, và chỉ có nụ cười mới có thể giúp họ tự đứng dậy để làm lại từ đầu trong tang thương đổ nát….

https://www.facebook.com/…/pcb…/867622650309207/

(Còn nữa)

23.10.20

TN

Muôn Trùng Chờ Đợi: Câu Chuyện Về Peter Và Một Lời Hẹn

1. Con đường đi bộ đến chỗ làm

Từ nhà tôi đến chỗ làm việc cách khoảng 3 cây số. Đi phương tiện gì cũng lỡ cỡ. Đi ô tô thì vừa chưa đạp lún chân ga thì đã tới nơi. Lúc về, lòng vòng cả tiếng chưa chắc đã tìm ra chỗ đậu xe. Đi xe bus thì mất công móc vé ra trình, rồi trèo lên chưa kịp yên vị đứng ngồi gì thì đã phải trèo xuống. Vì vậy mưa nắng hay gió tuyết gì tôi cũng quyết định đi bộ cho nó có “phẩm vị”.

Người Đức có cái lạ là đẳng cấp thứ bậc phẩm vị đáng trân trọng của những người đi làm không phải là ở chỗ bạn làm chức vụ gì, và lương, thu nhập nhiều hay ít. Mà phẩm vị được đánh giá cao nhất của người đi làm có đóng thuế là dành được bao nhiêu thời gian cho việc nghỉ ngơi và có bao nhiêu thời gian tiếp cận được với thiên nhiên.

Ở Đức bạn không lo thiếu đồ ăn ngon, không lo thiếu áo quần đẹp, không lo không có chỗ ở, và bạn cũng không phải cần lo lắng cho việc học hành sinh hoạt của con cái. Nếu bạn không nghiện ngập một cái gì đó thì cuộc sống cỡ gì cũng OK. Tất cả đều có nhà nước lo. Ở Đức nhà đông con, hay hưởng trợ cấp xã hội có cuộc sống sung túc hơn, tiêu pha xả láng hơn người đi làm là chuyện bình thường.

Trong hàng phẩm vị cao (Những người đi làm có đóng thuế) thì thứ hạng phẩm vị được đánh giá qua phương tiện đi làm.

Người được trân trọng nhất là người đi bộ đi làm, kế đến là người đi xe đạp, sau đó là người đi làm bằng phương tiện công cộng, cuối cùng mới là người đi làm bằng ô tô cá nhân. Các bạn nghĩ là tôi nói ngược cho vui chăng. Không đâu, sự thật là như vậy đấy.

Người Đức rất sợ áp lực của Stress, cho nên ai không có điều kiện đi bộ, đi xe đạp đi làm hoặc bắt buộc phải đi làm bằng ô tô cá nhân thì khá tội nghiệp, vì họ sẽ có rất nhiều áp lực về kẹt xe và áp lực về chỗ đậu xe trong thành phố… Bởi vậy mỗi lần bệnh nhân hỏi tôi đi làm bằng phương tiện gì, tôi trả lời là đi bộ với một thần thái rất tự hào, và họ cũng có chút ghen tỵ.

Chỉ có những người có sức khỏe và yêu sức khỏe mới đi làm bằng xe đạp hoặc đi bộ, và phải là cực kỳ may mắn mới có cơ hội, nơi làm việc và nhà ở gần đến độ có thể đi bộ được.

Vậy đó, tôi nói đi bộ đi làm cho có phẩm vị là vì vậy đó… hì..hì…

Ngã tư và những người vô gia cư

Ngặt nỗi, đường bộ đi làm của tôi khi nào cũng phải đi băng qua một trạm xe bus và tàu điện, mà trạm này lại là trạm đầu mối nằm ngay ngã tư giao thông quan trọng nhất của quận Altona của thành phố tiểu bang Hamburg.

Ngoài việc lượng người đi lại đông đúc ra, thì ở ngay hướng đường tôi phải đi qua lại có 2 tụ điểm của người vô gia cư thường tụ tập để bia rượu và hút xách. Khá bất tiện và không được thoải mái khi phải đi xuyên qua tụ điểm của đám người này.

Tuy họ rất lành, không gây hại hay cản trở gì, nhưng ở nơi họ thường tụ tập có một trường năng lượng rất bẩn và ô trược. Có đạt trình vô nhiễm đến đâu, khi còn nhìn, còn nghe, còn có cảm xúc thì vẫn có cảm được thứ gì đó không an lành lắm khi đi ngang qua chỗ đó. Trường năng lượng này không đến nỗi tàn hại như trường năng lượng của sự ghen tuông đố kỵ… nhưng cũng không được sạch sẽ an bình, nó thuộc vào loại nên tránh càng xa càng tốt…

Tin về Peter

Trong đám người vô gia cư thường tụ tập xung quanh nhà hát Neue Flora ở ngã tư này có một người tôi quen là anh Peter. Chuyện về Peter tôi đã có kể trong một vài Statut chuyện đời rồi. Chỉ bởi mấy tuần nay tôi không thấy bóng dáng Peter đâu, nên hôm qua đi làm về, tôi có lân la đến chỗ mấy người đang ngật ngừ tụ tập ở đây để hỏi tin.

Một người trong đám họ, giọng nhừa nhựa hỏi tôi có phải là Herr Le không. Tôi gật. Người này đưa cho tôi cái bật nắp chai có cán bằng sừng hươu, và nói của Peter gửi lại.

Tôi hỏi Peter đâu. Anh ta vẫy tay bảo tôi đi theo. Ra đến vườn cây phía sau nhà hát, người này chỉ vào cái ghế đá, phía dưới có đặt mấy ngọn đèn cầy và vài nhành hoa héo, bảo Peter đấy.

Tôi thoáng rùng mình hỏi lại, Peter chết lúc nào. Người này nói vào cuối tuần thứ 3 của tháng 8. Tôi sững sờ, hèn chi lâu lâu rồi tôi không gặp và không gật đầu chào anh ta mỗi khi đi làm ngang qua ngã tư này…

2. Chuyện về Peter và một lời hẹn

Chuyện về Peter tôi đã kể nhiều lần, nhưng có lẽ cũng nên nhắc lại một chút.

Tôi biết Peter cách đây khoảng 10 năm về trước. Hồi nhà hát Flora vẫn đang còn trình diễn vở nhạc kịch Vua Sư Tử. (Nhà hát này diễn một vở diễn cũng phải vài ba năm. Riêng vở nhạc kịch Vua Sư Tử phải diễn lâu đến gần 15 năm mới chuyển qua vở khác).

Lúc tôi đi làm, có để ý đến một người đàn ông, tay cầm chai bia mở nắp, bên cạnh có thêm một chai chưa khui, ngồi bên này ngã tư nhìn chăm chăm sang nhà hát như không hề chớp mắt. Buổi sáng đi làm cũng thấy tư thế đó, buổi chiều đi làm về cũng thấy tư thế đó, chỉ khác hơn là chai bia thứ hai đã mở nắp mà thôi.

Nhiều ngày như vậy, thấy lạ nên tôi mới lân la làm quen. Hỏi ra mới biết là anh ta đang đợi một người. Tôi ngạc nhiên, đợi ai mà đợi ngày này qua ngày khác vậy. Anh ta kể…

Một nụ hôn trong nhà hát

Anh ta tên là Peter, là kỹ sư chế tạo máy làm ở hãng Airbus A380. Một lần đi xem nhạc kịch ở nhà hát này. Trong lúc xem đến đoạn cao trào, anh ta được một khán giả ngồi bên cạnh cầm lấy tay, và có hôn anh ta một nụ hôn khi tình tiết của vở kịch ở lúc xúc động nhất.

Tan kịch, người khán giả ngồi cạnh ấy xin lỗi về sự đường đột. Peter tỏ ra rất hạnh phúc và nói với cô gái ấy rằng, chưa có khi nào trong cuộc đời anh ta có cảm giác hạnh phúc lâng lâng đến như vậy.

Lúc chia tay, Peter bịn rịn, xin nắm tay cô gái ấy một lần nữa và hỏi có cơ hội gặp nhau nữa không. Cô gái ấy nói nhất định sẽ gặp lại vào những vở diễn sau.

Ngày này qua ngày khác, Peter vẫn đợi

Khi nhà hát đổi vở diễn, Peter ngày nào cũng đến đây ngồi đợi. Đợi ngày này qua ngày khác. Đợi cho đến khi Peter xin nghỉ thất nghiệp để ngồi đợi kẻo sợ lỡ bỏ cơ hội.

Nhà hát lại đổi vở diễn mới. Peter từ hưởng trợ cấp thất nghiệp chuyển sang trợ cấp xã hội. Từ chỗ một Kỹ sư có công ăn việc làm ổn định, có nhà cửa đàng hoàng trở thành một người gia nhập vào cộng đồng vô gia cư.

Khi thấy Peter đã tăng 2 chai bia lên thành 5 chai, rồi 7 chai theo năm tháng chờ đợi của anh ấy… tôi rất bất bình, trách cứ Peter tại sao lại phá hỏng cả đời mình vào một sự chờ đợi vô vọng đến vô lý vậy.

Peter mỉm cười nhìn tôi nói, tại sao là vô vọng, tại sao lại vô lý… Peter nói, anh ta rất tin tưởng vào lời hẹn gặp lại của cô gái ấy, và anh ta cảm thấy rất an lành và vui vẻ hạnh phúc khi chờ đợi ngày cô ấy xuất hiện trở lại.

Tôi hỏi Peter rất nhiều về cô gái đã có lời hứa làm cho Peter phải phá hỏng đời mình vì chờ đợi. Cho dù Peter diễn tả, diễn giải cỡ nào tôi cũng cảm thấy rất mơ hồ. Mỗi lần thấy tôi tỏ vẻ không tin tưởng vào sự chờ đợi của Peter, anh ta khá bực mình và luống cuống lấy chai bia này bật nắp chai bia kia liên tục, nhưng không uống.

Có lần Peter lôi trong túi cái mở nắp chai mà tôi tặng anh ta ra nói: “Cũng như việc cậu tặng tớ cái mở nắp chai này vậy, cậu hoàn toàn không hiểu gì về người uống bia cả, không phải là tớ không có tiền mua cái mở nắp chai, mà cái thú của người uống bia chuyên nghiệp là khoảnh khắc chờ đợi những hớp bia khi lấy cái chai này kê bật nắp của chai bia kia, bụp… tung nắp và từ từ từng hớp mát lạnh… đó là sự sung sướng, cậu không hiểu nên mới mua cái mở nắp này tặng tớ. Cũng như cậu không hiểu gì về hạnh phúc, nên mới không tin vào sự chờ đợi.”

Tôi cứng họng.

Một “âm mưu” để thức tỉnh Peter

Cho đến khi sau 7, 8 năm gì đó, khi thấy loạt chai không để bên cạnh chỗ ngồi đợi của Peter có vẻ hơi đông đông và thần thái của anh ta cũng như đơ đơ. Tôi sợ anh ta sẽ lại như đám người vô gia cư kia, lại thất thần vì hút bồ đà nên tôi ủ một âm mưu. Tôi hỏi rất kỹ về vóc dáng, tóc tai và cách trang phục của cô gái mà Peter chờ đợi.

Rồi tôi tìm Klara, một cô gái mà tôi quen biết. Cô này cũng có một lần sa vào sự chờ đợi ngớ ngẩn như Peter. Cũng mất nhiều năm chờ đợi một bóng người trên một chuyến tàu làng. Để rồi cuối cùng cũng tỉnh ngộ ra hạnh phúc mông mênh đã hoang phí tuổi xuân của mình.

Tôi kể cho Klara nghe chuyện của Peter, và nhờ Klara đóng một vở kịch để thức tỉnh Peter.

Ban đầu Klara từ chối, vì nói việc làm của tôi vô ích. Nhưng vì tôi năn nỉ quá nên Klara nghe theo.

Một hôm tôi bảo Klara xuất hiện bên kia cửa nhà hát lúc tan kịch, bên này tôi giả vờ hốt hoảng vỗ vai Peter chỉ sang phía Klara. Peter lắc đầu. Tôi thì khẳng định chắc chắn, và chạy sang kéo Klara sang chỗ Peter.

Peter chào hỏi Klara xong quay sang vỗ vào tôi nói: “Xin lỗi cô, chỉ vì ông bạn tốt bụng của tôi mà đã làm phiền đến cô”.

Klara mỉm cười nói: “Tôi cũng đã từng như bạn, nên tôi hiểu cảm giác của bạn”…

Dự đoán của tôi không sai, mấy năm gần đây Peter không chỉ nghiện bia mà còn nghiện luôn hút bồ đà. Peter đã thay đổi rất..rất nhiều, chỉ duy có niềm tin chờ đợi là không thay đổi….

3. Muôn trùng chờ đợi

Từ đầu năm nay đến giờ, nhà hát thực hiện luật giãn cách xã hội vì đại dịch Covid-19, nên không có suất diễn nào. Tôi thấy Peter suy sụp hẳn đi. Tôi đã lo lo.

Vì cho dù có mơ hồ đến đâu, nếu nhà hát còn suất diễn thì sự chờ đợi của Peter vẫn còn có cơ sở để hy vọng. Nếu nhà hát không có suất diễn, thì sự chờ đợi của Peter sẽ trở nên vô vọng, mà sự chờ đợi này vốn là nguồn sống duy nhất còn lại của Peter. Không còn sự chờ đợi, tôi e rằng Peter sẽ sụp đổ hoàn toàn.

Và lo ngại của tôi đã thành sự thật. Peter đã gục chết trong muôn trùng chờ đợi vào ngày 22.08.

Tôi đặt hoa và đèn cầy lên chiếc ghế đá phía sau nhà hát, nơi người ta đã có đặt sẵn mấy cây đèn cầy và hoa để tưởng niệm Peter. Nghe nói người ta phát hiện ra Peter nằm chết trên chiếc ghế đá này.

Vậy là Peter đã kết thúc được sự khắc khoải chờ đợi của mình. Không biết Peter có hạnh phúc không, nhưng tôi tin rằng khoảng thời gian hơn 10 năm chờ đợi này của Peter là khoảng thời gian ấn tượng nhất của cuộc đời anh ấy.

Tôi lôi cây Thất thương tiêu luôn mang bên mình ra, ngồi xuống trên thảm cỏ và tùy hứng thổi một khúc nhạc. Trong tiếng tiêu hôm nay của tôi, hình như tôi mơ màng thấy có hình ảnh của Peter ôm chầm lấy người mình chờ đợi….

02.09.20

Thuận Nghĩa