Ít ai biết được ngữ cảnh ra đời của bài thơ „Chia“ của Nhà thơ – Nhạc sĩ Nguyễn Trọng Tạo là vào những năm đầu của thập niên 80 của thế kỷ trước. Mãi đến những năm đầu của thế kỷ 21 Nhạc sĩ Phú Quang mới phổ bài thơ „Chia“ thành bài hát „Một dại khờ một tôi“.
Những năm tháng ở Huế
Hồi ấy anh Tạo vào làm việc ở Hội Văn Học Nghệ Thuật tỉnh Bình – Trị – Thiên. Đầu năm 1983 tôi về làm việc tại Trung tâm Hướng nghiệp Huế.
Tôi nghiện đọc và mê thơ văn từ nhỏ, nên khi vào Huế thường hay lân la đến 18 Lê Lợi và số 1 Phùng Hưng (Hội văn học Nghệ thuật Bình – Trị – Thiên và Tòa soạn tạp chí Sông Hương đóng ở đó) để làm quen với các cây bút nổi tiếng đương đại lúc bấy giờ đang hội tụ về đó.
Hồi đó tôi và Mùi Tịnh Tâm và Phương Xích Lô làm thành bộ 3 „Thơ Giang Hồ“ (Cố đô tam tuyệt), chúng tôi không phải là người của Hội văn học Nghệ thuật nhưng có viết lách và làm thơ nên cũng có mối quan hệ khá thân với một số nhân vật đình đám của Hội.
Tôi có „Lời nguyền“ là không bao giờ đụng đến rượu bia, mà hồi đó chẳng hiểu sao tôi gặp các anh lúc nào cũng thấy „nhậu“. Nhưng mà cũng hay chỉ có trong tiệc nhậu mới nghe được những câu chuyện những bài thơ không bao giờ xuất bản của các Nhà văn và Nhà thơ nổi tiếng ấy.
Hồi đó tôi chỉ thân với anh Nguyễn Trọng Tạo, anh Ngô Minh và vợ chồng anh Hoàng Phủ Ngọc Tường và chị Lâm Thị Mỹ Dạ. Còn các anh, chị Nguyễn Quang Lập, Hải Kỳ, Mai Văn Hoan, Trần Vàng Sao, Trần Thùy Mai… tôi chỉ biết và hay đọc họ chứ không thân.
„Tội mi hè“
Có một lần anh Nguyễn Trọng Tạo, anh Ngô Minh, anh Bửu Ý và hình như có anh Nguyễn Quang Lập nữa thì phải, mở cuộc nhậu tại nhà anh Hoàng Phủ Ngọc Tường ở số 10 Nguyễn Trường Tộ. Các anh ấy nhậu và nói chuyện trên trời dưới biển.
Tôi thuộc vai nhỏ lại không uống được rượu nên chỉ quanh quẩn dưới bếp giúp chị Dạ làm đồ mồi. Thấy tóc tôi thưa thớt và bạc trắng nhiều chỗ, chị Dạ hỏi tôi bị bệnh gì. Tôi ngập ngừng kể cho chị ấy nghe hệ lụy về cuộc tình ngang trái mà tôi đang vướng phải, đã mấy tháng rồi không ngủ nên tóc nó rụng gần hết và bạc vậy. Chị Dạ xoa đầu tôi nói „Tội mi hè“.
Hôm ấy tôi trổ tài nấu nướng làm món lòng gà hấp chanh sả. Các anh ấy nhậu khen ngon, hỏi là món gì tôi cười hề hề nói là món „Tan nát cõi lòng“.
Chị Dạ cười, vui miệng kể lại chuyện tình của tôi. Anh Tạo nghe xong nói, rứa thì chuyện thằng ni tui biết. Tôi hỏi, răng anh biết. Anh nói, hôm ngồi nói chuyện với Lê Phước Thúy và Trần Hoàn có nghe kể.
Bài thơ „Chia“ ra đời
Mấy tuần sau, gặp lại anh Tạo, cũng trong một cuộc nhậu khác, anh Tạo gọi tôi lại nói, để anh đọc cho Nghĩa bài thơ ni coi có được không nghe. Vậy là anh ngân nga đọc bài thơ „Chia“ ấy.
Tôi lấy giấy bút xin anh chép lại bài thơ. Vì âm hưởng của bài thơ là thơ Lục bát, nên khi chép lại, tôi chép cách dòng các khổ theo kiểu câu 6/8. Anh Tạo xem nói, chép sai rồi, phải cách dòng chia các câu 8 ra thành nhiều đoạn như ri như ri nì.
Thấy anh Tạo chia lại câu cho bài thơ, tôi trố mắt thốt lên, hay hè… hay hè… vừa chia cho em cả một vui, một buồn, chia cả cây si mà chia cả cây bồ đề mà còn chia cả Lục bát nữa chơ, đọc mà cứ man mác như đồng dao lại bứt phá như bài hát cực hiện đại eng hè!!!. Anh Tạo cười nói, chơ răng, chơ răng…
Thấy tôi cứ chăm chú nhìn mảnh giấy chép bài thơ vừa lẩm nhẩm đọc như mất hồn, anh Tạo hỏi, Lợn Đất thấy răng (Anh Tạo cũng tuổi Hợi nhưng hơn tôi một Giáp, nên anh hay gọi tôi là Lợn Đất, còn tôi gọi anh là Lợn Lòi).
Tôi thẩn thờ nói, Tham, Sân, Si cũng được anh mô tả một cách cực siêu thoát mà lại không kém phần tục trần, có điều hai câu kết buồn quá, mà sao khổ này anh lại không chia ra ngắt dòng hè. Anh Tạo nói, tất cả rồi chỉ còn lại một nấm cỏ vô thường, đã vô thường thì còn chia chi nữa….
Nguyên tác bài thơ „Chia“
Nguyên tác của bài thơ „Chia“ in trong tập ĐỒNG DAO CHO NGƯỜI LỚN – NXB Văn học – 1994 của Nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo như sau:
Chia
chia cho em một đời tôi
một cay đắng
một niềm vui
một buồn
tôi còn cái xác không hồn
cái chai không rượu tôi còn vỏ chai
chia cho em một đời say
một cây si
với
một cây bồ đề
tôi còn đâu nữa đam mê
trời chang chang nắng tôi về héo khô
chia cho em một đời thơ
một lênh đênh
một dại khờ
một tôi
chỉ còn cỏ mọc bên trời
một bông hoa nhỏ lặng rơi mưa dầm
„Một dại khờ một tôi“
… Trong bài hát „Một dại khờ một tôi“ (phổ thơ „Chia“) Nhạc sĩ Phú Quang bỏ mất câu:
„tôi còn cái xác không hồn
cái chai không rượu tôi còn vỏ chai“
Câu này cũng là câu mà tôi đã từng nói với anh Tạo, sau này có phổ nhạc bài ni thì đừng phổ hai câu này nghe. Anh Tạo hỏi vì răng. Tôi nói có chia chi thì chia, rượu thì đừng chia, tội họ!.
Anh Tạo cú đầu tôi nói, mi không biết say rượu thì răng mà biết say tình được, rồi anh cao hứng đọc một bài thơ ngắn khá nổi tiếng của anh lúc bấy giờ:
..“sông Hương hóa rượu ta đến uống
ta tỉnh đền đài ngả nghiêng say.“
Chỉ còn cỏ mọc bên trời…
..Và vậy là tác giả của bài thơ „Chia“ và bài hát „Một dại khờ một tôi“ bây giờ họ đã thật sự là những bông hoa lặng rơi bên trời rồi!!! :
…“chỉ còn cỏ mọc bên trời
một bông hoa nhỏ lặng rơi mưa dầm…“
…Nhớ là vào khoảng thời gian 2008 đến 2012 gì đó, mỗi ngày tôi có thể viết được đôi chục bài thơ như thế. Có những bài lục bát tôi viết dài cả mấy trăm câu, mà viết trực tiếp lên khung viết của Blog chứ không có chuyện nháp trước.
Rồi làm tranh, viết truyện… rải comment… dạy nấu ăn, dạy châm cứu, khí công… tùm lum…. Riết đến nỗi có người hỏi tôi ăn và tôi ngủ vào lúc nào, và những thứ tôi làm ra, được hoàn thành từ thời gian nào trong ngày, há mỗi ngày của tôi có đến 60 giờ đồng hồ ư.
Thú thực là tôi cũng không biết tôi đã tận dụng thời gian như thế nào trong cái độ tuổi “49 – 53” đó. Mặc dù trong khoảng thời gian ấy, có lúc tôi phải ăn, ngủ… và tá túc ở gầm cầu một thời gian khá dài (Thật đấy!!!).
Thơ, văn và những cố nhân
Trong những người hỏi cái câu hỏi tương tự như vậy có thằng T.Q.D, anh N.T.T… T.Q.D là đứa bạn vong niên (Nhỏ hơn tôi gần 2 con giáp), nó là lớp hậu bối, đi làm Tiến sĩ Điện lạnh ở Đức, vì mê Thơ – Văn mà quen nhau qua Vnweblog.
Hì hì… T.Q.D cũng là một trong những người hồi ấy… cũng rất chi là “hoàn cảnh” nhưng cũng đã “mua ủng hộ” mấy bức “ghép lá” của tôi với giá không phải là “khiêm tốn”, nếu không nói là “giá trên trời”.
Trong đó có bức “Đồi Dã Quì”, một trong những bức mang tính “thử nghiệm” kỹ thuật bảo quản màu tự nhiên. (ảnh đính kèm)
“Anh chuẩn bị đưa lại Thời hoang dại lên FB à…”
Hôm rồi vì có chút “xao động” không kiềm chế được cảm xúc, tôi có sa đà vào “tự truyện”. T.Q.D có nhắn tin (rất hiếm hoi): “Anh chuẩn bị đưa lại Thời hoang dại lên FB à…”.
Câu nhắc của “Hắn” làm tôi chột dạ. Vì có lần tôi đã từng lên lớp hắn: Người làm việc lớn mà không bỏ ngay cái thói “ăn mày dĩ vãng” thì cơ nghiệp chẳng nên cơm cháo gì đâu.
(“Thời Hoang Dại” là một dạng “Tự Truyện – Hồi Ức” của tôi viết vào thời gian đã nói trên, cũng có chút ấn tượng với người đọc, và đã có người chuyển thể thành kịch bản phim)
Định viết tiếp cái “tự truyện”: Tượng Đài Lòng Cha, nhưng T.Q.D đã làm lăn tăn chùn bút… hì hì….
01.12.21
Thuận Nghĩa
XÁC CÁO
lỡ mai này mình là gã hủi
liệu có người còn muốn mua trăng?
và giả dụ mình sẽ là kim tước
giữa đại ngàn còn bụi mận gai không?
cho là vậy em như là thiên sứ
thì được gì khi anh quá tục trần
ly trà nhão đâu cần pha nước nóng
cuối con đường thêm gì nữa bàn chân
nên đầu núi về cuộn làm xác cáo
mặc kệ đời ướm trĩu nụ nho xanh
dù nơi đó chỉ có lời giun dế
cũng ru êm được một giấc nhiên lành!
29.11.11
MÁI THƯƠNG HỒ
Qua biết rồi qua đã về trễ nải
khi núi đồi đã trọc hết mùa trăng
thuyền ba lá úp mặt trên con nước
nắng cuối mùa tớp sóng dợn khô nhăn
thôi này bậu có gì đâu mà lỡm
nhằm nhò chi gió lươn lẹo mùa đông
đôi nhành khẳng bẻ nhen ngày thiếu lửa
mái thương hồ quen sương khói cà rằng
sẽ có lúc về bên đìa qua đía
vũng trâu đằm cũng đỏ dậy phù sa
tàu dừa nước đụt nhờ cơn mưa cợt
khát với tay hái mấy trái me già
thôi này bậu có gì đâu húng hắng
mà chảnh choi phơi vạt giữa con ròng
khi muốn nổi lục bình theo sóng nổi
cũng buông mùa với gạo chợ nước sông
mắc mớ chi để rệu mình lỏng bỏng
nhễu giọt đời trước đồng ruộng bao la
nơi khe lạch cứ yên bề cá móng
đú làm sao với rộng lớn sơn hà
sẽ có lúc qua sẽ về qua đía
mùa trăng non khệnh khạng đá bèo chơi
ơ này bậu xin đừng buồn qua nhé
mái thương hồ tưng tửng nhếch môi cười.
29.11.11
TN
…
Ảnh đính kèm là bức “Đồi Dã Quì” tranh ghép bằng hoa lá khô, hoàn thành vào thời gian 11.2011 hiện đang nằm trong “bộ sưu tập” của T.Q.D tại Hà Nội